Bản tin

MỪNG ĐẢNG – MỪNG XUÂN: GÌN GIỮ TRUYỀN THỐNG, LAN TỎA NẾP SỐNG VĂN MINH Hòa trong không khí rộn ràng chào đón mùa xuân mới, toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh và nhân dân hân hoan Mừng Đảng quang vinh – Mừng Xuân ấm áp. Mùa xuân không chỉ mang đến niềm vui, hy vọng mà còn là dịp để mỗi người thêm tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước. Xuân về là lúc những giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy: sum họp gia đình, tri ân tổ tiên, thăm hỏi người thân, chia sẻ yêu thương với cộng đồng. Những phong tục tốt đẹp ấy góp phần tạo nên bản sắc riêng của quê hương, nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước trong mỗi người dân. Bên cạnh đó, việc thực hiện nếp sống văn minh trong ngày Tết là trách nhiệm chung của toàn xã hội: đón Tết an toàn, tiết kiệm; giữ gìn vệ sinh môi trường; chấp hành luật an toàn giao thông; không mê tín dị đoan, không sử dụng các tệ nạn xã hội. Mỗi hành động đẹp, mỗi cử chỉ văn minh chính là cách thiết thực để mùa xuân thêm trọn vẹn và ý nghĩa. Mừng Xuân mới, mừng Đảng quang vinh, tin tưởng rằng với truyền thống tốt đẹp và tinh thần trách nhiệm, quê hương chúng ta sẽ tiếp tục phát triển, đón một năm mới bình an – hạnh phúc – thành công.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_20251008_152449.png 492676819_122240850416200940_6424338340012957322_n.jpg 492880870_122240852030200940_2654419725147257170_n.jpg 492676819_122240850416200940_6424338340012957322_n.jpg 493849653_122240848226200940_1615818080035021270_n.jpg 9.png 11.png 4.png Co_Duong.png 5.png 6.png Thu_vien_truong_gioi_thieu_sach_thang_3.flv Db0cc6ff5cd3e08db9c2.jpg 464245864_122190946124200940_3974562673935305791_n.jpg 647666b7fc0a47541e1b.jpg 467955265_122198149496200940_7081064087547739701_n.jpg 466413710_122195513480200940_3479899033474218114_n.jpg 467402185_122197104554200940_6606976432164048389_n.jpg 467732281_122197104266200940_4215561827777892757_n.jpg 726fccbd872a2174783b.jpg

    Thư viện PTDTNTTHCS B Đà Băc

    https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU&t=11s

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH PHÚ THỌ

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG PT-DTNT THCS&THPT B ĐÀ BẮC - TỈNH Phú Thọ

    ĐC: Xóm Chiềng Cang, Xã Đức Nhàn, tỉnh, Phú Thọ. CBTV Xa Thị Tươi SĐT 0985157520

    MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC

    https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU

    Tài liệu GDĐP tỉnh Hòa Bình lớp 8

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:44' 20-04-2024
    Dung lượng: 34.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    Nguyễn Thị Thu Thuỷ – Đinh Thị Hường (đồng Tổng Chủ biên)
    Hà Văn Minh – Dương Thị Oanh – Nguyễn Việt Khôi – Trịnh Thị Thu Hà
    Trần Thị Mai Phương – Bùi Thị Kim Anh (đồng Chủ biên)
    Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Vũ Thị Lan – Nguyễn Thị Huyền – Nguyễn Thị Hương
    Phùng Tôn Quyền – Võ Thị Sương – Trần Ngọc Diệu Linh – Nguyễn Thị Hương
    Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Nguyễn Mạnh Hùng – Vũ Xuân Thanh
    Phạm Hùng – Nguyễn Duy Tiến – Nguyễn Thị Thu Nguyệt

    LỜI NÓI ĐẦU
    Các em yêu quý!
    Các em đang sống trên mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ
    sinh sống và cho đến nay, vẫn còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hoá rực rỡ mang
    tên: Văn hoá Hoà Bình.
    Tỉnh Hoà Bình là cửa ngõ vùng Tây Bắc của nước ta, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
    4.662.5 km². Hoà Bình có địa hình đồi núi trùng điệp với nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều khu,
    điểm du lịch hấp dẫn như động thác Bờ, thác Mu, quần thể di tích lịch sử văn hoá, danh lam
    thắng cảnh hang động chùa Tiên, bản Lác,... Hoà Bình có nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình, được
    xây dựng trên dòng sông Đà, là một trong các nhà máy thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam
    Á và là biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô cũ (nay là Cộng hoà Liên bang
    Nga). Hoà Bình còn có nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh nguyên liệu tập trung,
    được phát triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím, vùng bưởi
    huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu,
    Đà Bắc,... Trên địa bàn tỉnh có sáu thành phần dân tộc sinh sống, gồm: Mường, Thái, Kinh,
    Dao, Mông, Tày. Các dân tộc vừa giữ gìn bản sắc văn hoá riêng của mình, vừa bảo tồn tính
    đa dạng của văn hoá các dân tộc khác trong cộng đồng.
    Cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 8 sẽ góp phần trang bị cho các em
    những hiểu biết cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội,
    môi trường của tỉnh Hoà Bình. Từ đó góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương; ý
    thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học trong nhà trường với những vấn đề đặt ra ở địa
    phương; giúp các em hoà nhập với môi trường đang sinh sống, có trách nhiệm hơn trong việc
    tìm hiểu, gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương, góp phần xây dựng
    tỉnh Hoà Bình ngày càng giàu đẹp.
    Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 8 gồm 12 bài học, thuộc 7 lĩnh vực: văn
    hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội, môi trường của tỉnh Hoà Bình.
    Mỗi bài học được cấu trúc làm 4 phần: Mở đầu, Kiến thức mới, Luyện tập, Vận dụng.
    Để học tốt Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 8, các em hãy đọc kĩ hướng
    dẫn và hoàn thành các nhiệm vụ trong từng bài học.
    Hi vọng rằng, mỗi bài học trong cuốn tài liệu này sẽ là những khám phá mới mẻ giúp các
    em hiểu nhiều hơn, yêu quý, tự hào và có trách nhiệm hơn về quê hương Hoà Bình yêu dấu.
    CÁC TÁC GIẢ

    MỤC LỤC
    STT

    Tên bài

    Trang

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
    1
    2

    Nhà ở truyền thống của các dân tộc ở Hoà Bình
    Nét độc đáo trong ẩm thực của đồng bào các dân tộc ở
    Hoà Bình

    7
    13

    3

    Tiếng nói chữ viết của dân tộc Mường

    20

    4

    Chuyển biến về kinh tế – xã hội, văn hoá

    24

    5

    Nhân dân các dân tộc Hoà Bình đấu tranh chống ngoại xâm từ
    cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930

    33

    ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP
    6

    Ngành nông, lâm, thuỷ sản của tỉnh Hoà Bình

    40

    7

    Những thay đổi về kinh tế tỉnh Hoà Bình

    54

    8

    Nhu cầu sử dụng và đào tạo lao động ở một số ngành nghề
    của tỉnh Hoà Bình

    65

    CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG
    9
    10

    Chính sách an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc tỉnh
    Hoà Bình

    75

    Một số thiên tai và phòng chống thiên tai ở tỉnh Hoà Bình

    80

    Giải thích thuật ngữ

    91

    Nguồn tư liệu ảnh, bài

    92

    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU

    Mục tiêu bài học:
    Nhấn mạnh về yêu cầu cần đạt,
    năng lực và phẩm chất, thái độ học
    sinh cần đạt được sau khi học.
    Mở đầu:
    Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập
    học sinh cần giải quyết; kết nối với
    những điều học sinh đã biết, nêu
    vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo
    hứng thú đối với bài mới.

    Kiến thức mới:
    Thông qua các nội dung (kênh hình,
    kênh chữ) và các hoạt động học
    tập, học sinh được khai thác và tiếp
    nhận kiến thức mới.

    Luyện tập:
    Là các câu hỏi, bài tập, thực hành
    để củng cố kiến thức, rèn luyện các
    kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.

    Vận dụng:
    Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học
    để giải quyết các tình huống, vấn đề
    trong thực tiễn.

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG

    1. NHÀ Ở TRUYỀN THỐNG
    CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH HOÀ BÌNH
    Học xong chủ đề này, em sẽ:

    ► Mô tả được khái quát nhà ở của một số dân tộc ở
    tỉnh Hoà Bình.
    ► Trình bày được đặc điểm nhà ở truyền thống của
    dân tộc Mường, Thái, Mông ở Hòa Bình
    ► So sánh được điểm giống nhau và khác nhau giữa
    nhà ở của một số dân tộc ở tỉnh Hoà Bình.
    ► Đề xuất được một số biện pháp bảo vệ công trình
    kiến trúc nhà ở truyền thống của tỉnh Hoà Bình.

    Quan sát các hình ảnh sau và cho biết đây là nhà ở của những dân tộc nào ở Hoà Bình?

    Hình 1.1

    Hình 1.2

    7

    1. Khái quát về nhà ở truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
    Các dân tộc ở Hoà Bình có những nét văn hóa đặc sắc được thể hiện rõ qua ngôn ngữ,
    phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và kiến trúc nhà ở truyền thống. Nhà ở của các dân
    tộc được thiết kế, xây dựng dựa trên quan niệm riêng thể hiện trong chất liệu, kiểu dáng và
    công năng sử dụng. Tuy nhiên bên cạnh sự độc đáo, khác biệt, nhà ở của các dân tộc cũng có
    những điểm chung trong việc lựa chọn vật liệu xây dựng và một số cách thiết kế. Các dân tộc
    sinh sống ở Hoà Bình có 3 dạng nhà truyền thống: nhà trệt; nhà sàn; nhà nửa sàn nửa trệt. Vật
    liệu truyền thống thường tận dụng nguồn có sẵn trong tự nhiên như bương tre, nứa, lá, đất
    đá... Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhà ở của các dân tộc có nguy cơ mất dần nét
    truyền thống. Một số nhà sàn mới được xây dựng cũng có những thay đổi quan trọng trong bộ
    khung, mái, vật liệu hiện đại như sắt, thép, tôn, kính, nhựa… Nhà ở truyền thống của các dân
    tộc là nơi lưu giữ những nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc theo thời gian. Vì vậy, sự đổi thay
    là xu thế tất yếu song cần có những cách làm để giúp cho sự phát triển cuộc sống văn minh,
    hiện đại mà vẫn bảo tồn được bản sắc văn hóa của các dân tộc.
    – Nhà ở truyền thống của các dân tộc ở Hòa Bình thường sử dụng
    những vật liệu gì và có những dạng cơ bản nào?
    – Tại sao cần phải bảo tồn nhà ở truyền thống của các dân tộc?
    2.Tìm hiểu nhà ở truyền thống của một số dân tộc ở Hoà Bình
    a. Nhà ở của người Mường
    Nhà sàn Mường cổ truyền thường có 2 vì kèo, 4 cột cái tượng trưng cho 4 chân con rùa
    và 8 cột con, 4 mái tượng trưng cho mu rùa bởi tín ngưỡng dân gian của người Mường coi
    rùa biểu trưng cho sự bền vững. Nguyên vật liệu để dùng làm nhà sàn truyền thống là những
    thứ có sẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa, lá… Ngày nay, nguyên vật liệu để làm nhà sàn có
    thêm gạch, ngói, xi măng. Nhà sàn Mường thường chia ra 3 mặt bằng: mặt trên cùng là gác
    để cất giữ lương thực, đồ dùng gia đình; sàn nhà là nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi; gầm sàn dùng
    để các dụng cụ sản xuất, nhốt gia súc. Sàn nhà thường lát bằng những cây bương hoặc bằng
    gỗ nhưng chủ yếu vẫn là cây bương. Cột nhà làm bằng gỗ tròn hoặc vuông. Nhà sàn bố trí 2
    cầu thang: cầu thang chính ở đầu hồi bên phải; cầu thang phụ ở đầu hồi bên trái. Cầu thang
    phụ chỉ dùng cho những người trong gia đình lên nhà khi đi làm ruộng, nương về. Trong
    nhà sàn của người Mường, không gian được chia theo cả chiều dọc và chiều ngang. Từ cầu
    thang chính bước vào phần giữa sàn nhà phía dưới là bếp, phía trên là bàn thờ, phía ngoài
    để tiếp khách, phía trong là nơi sinh hoạt của cả gia đình.

    8

    Hình 1.3. Nhà sàn của người Mường

    Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của mọi lĩnh vực trong đời sống; nhà ở của
    người Mường đã có những đổi thay đáng kể. Những nếp nhà sàn cổ truyền hầu như biến mất.
    Những ngôi nhà sàn mới được xây cất cũng có những biến đổi quan trọng về nguyên vật liệu,
    không gian sinh hoạt và các đồ gia dụng khác.
    b. Nhà ở của Người Thái
    Người Thái chủ yếu ở nhà sàn. Nguyên vật liệu để làm nhà sàn là gỗ, tre, nứa, lá được
    kết cấu thành các phần chính: hệ thống cột, xà, phần mái lợp, phần che chắn xung quanh,
    sàn ở, cầu thang và sân phơi ngoài trời. Cột của nhà sàn được làm từ các loại gỗ tốt không

    Hình 1.4. Nhà sàn của người Thái

    9

    bị mối mọt. Cột nhà chôn dưới đất hoặc kê trên những hòn đá tảng. Gầm sàn đủ cao,
    thoáng nhưng không chênh vênh. Cầu thang được làm bằng gỗ, lắp đặt vững chắc, thường
    được bố trí ở 2 đầu hồi nhà. Người Thái lên sàn nhà bằng các cầu thang gỗ với số bậc lẻ
    như người Mường. Nhà sàn Thái phổ biến có ba gian, cũng có nhà năm gian và hai hồi,
    đều có hai cửa lớn. Nhìn chung, nhà sàn người Thái cao rộng hơn, nhiều cửa sổ, gầm sàn
    cao hơn nhà sàn Mường.
    Đến nay, người Thái chủ yếu vẫn ở nhà sàn nhưng bên cạnh nhà truyền thống đã có những
    thay đổi về kiểu dáng và vật liệu.
    c. Nhà ở của người Mông
    Người Mông thường cư trú ở địa hình núi cao, hiểm trở, vách đá cheo leo hay quanh
    thung lũng, vực hẻm, nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới; độ ẩm cao, quanh năm sương
    mù bao phủ. Cách xây dựng nhà cửa của người Mông tương đối thống nhất. Người Mông ở
    nhà đất, thường từ 3 – 5 gian, có nhà tới 7 gian. Gian giữa đặt bàn thờ, hai gian bên là bếp
    và buồng ngủ. Nhà có điều kiện, nhà to, cột to, chân cột đẽo hình đèn lồng và kê lên hòn
    đá tảng, mái lợp ngói, vách thưng bằng ván gỗ. Nhà khó khăn hơn thì làm nhà nhỏ, cột nhỏ
    chôn xuống đất, mái lợp bằng cỏ tranh, vách thưng bằng nứa đan thành phên. Người Mông
    thường để lương thực ở các chòi ngoài vườn.

    Hình 1.3. Nhà của người Mông

    – Mô tả cấu tạo nhà ở của các dân tộc Mường, Thái, Mông ở tỉnh Hoà Bình.
    – Nêu những vật liệu để làm nhà ở của các dân tộc Mường, Thái, Mông
    có trong bài đọc. Em có nhận xét gì về những vật liệu này?

    10

    1. So sánh điểm chung và nét đặc sắc riêng các loại nhà của người Mường, người
    Thái, người Mông theo gợi ý sau (làm vào vở).

    Kiểu nhà

    Giống nhau

    Khác nhau

    Nhà của người Mường

    Nhà của người Thái

    Nhà của người Mông

    2. Chia sẻ những việc nên làm và không nên làm để giữ gìn, bảo vệ nhà ở truyền thống
    của địa phương.

    ?

    ?

    ?

    Việc
    không nên làm

    Việc nên làm

    ?

    ?

    ?

    11

    3. Làm mô hình nhà ở của một dân tộc ở Hoà Bình bằng tăm tre, vật liệu tái chế
    (ống hút, bìa...)
    Gợi ý một số mô hình:

    12

    2. NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG ẨM THỰC
    CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH HOÀ BÌNH
    Học xong chủ đề này, em sẽ:
    ► Mô tả được khái quát văn hoá ẩm thực của các dân tộc
    ở Hoà Bình.
    ► Nêu được đặc trưng văn hoá ẩm thực của một số dân
    tộc ở Hoà Bình.
    ► Có ý thức giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hoá ẩm thực
    của các dân tộc; quảng bá văn hoá ẩm thực trong phát
    triển du lịch, văn hoá, kinh tế xã hội của địa phương.

    – Kể tên các món ăn truyền thống của tỉnh Hòa Bình trong hình dưới đây.
    – Chia sẻ về một món ăn đặc trưng của tỉnh Hòa Bình mà em đã được thưởng thức.

    Hình 2.1

    Hình 2.2

    13

    1.Khái quát về một số đặc điểm văn hóa ẩm thực ở Hoà Bình
    Hoà Bình là điểm đến thú vị và hấp dẫn du khách thập phương bởi cảnh sắc thiên nhiên kỳ
    thú và những con người thân thiện, hiếu khách. Nơi đây còn nổi tiếng bởi nền “Văn hóa Hoà
    Bình” được bạn bè trong nước và quốc tế biết đến cùng sự đa dạng, phong phú của đời sống
    văn hóa các dân tộc Hoà Bình như Mường, Kinh, Tày, Thái, Dao, Mông. Hoà Bình còn được
    biết đến là “thủ phủ” của các món ăn lạ, độc đáo, có sức hút đối với du khách thập phương.
    Là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc của đất nước, Hoà Bình có địa hình núi non bao
    phủ và mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp các huyện. Chính điều kiện tự
    nhiên đó đã tạo nên một hệ sinh thái với các loài thực vật, động vật khá đa dạng của núi rừng,
    sông suối. Với nguồn nguyên liệu tự nhiên đó, cộng với cách thức chế biến món ăn thường
    là đồ, hấp, nướng, muối, chua... Hoà Bình hấp dẫn du khách bởi những món ăn vừa gần gũi,
    bình dị nhưng cũng độc đáo và khác biệt, mang đậm hương vị của núi rừng.
    Trên vùng đất Hoà Bình có sáu thành phần dân tộc chính cùng làm ăn sinh sống từ lâu đời.
    Mỗi dân tộc có những nét đặc sắc ẩm thực riêng. Chính vì vậy, văn hóa ẩm thực Hoà Bình là
    sự kết hợp đa dạng ẩm thực của nhiều thành phần dân tộc cùng cộng cư trên mảnh đất này.
    Nói đến văn hóa ẩm thực Hoà Bình có thể kể đến những món ăn tiêu biểu như măng chua nấu
    thịt gà, chả cuốn lá bưởi, lợn thui luộc, thịt lợn muối chua, măng đắng, thịt trâu nấu lá lồm,
    rau rừng thập cẩm đồ, xôi các màu, cơm lam, canh loóng, rượu cần, bánh uôi… Ẩm thực tạo
    nên sức hấp dẫn để du khách tìm đến Hoà Bình, là nét riêng tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo
    của một vùng đất. Ở một góc độ nào đó, ẩm thực các dân tộc ở Hoà Bình đã được nâng lên
    tầm văn hóa.
    – Kể tên một số món ăn tiêu biểu của các dân tộc ở Hoà Bình.
    – Nêu một số đặc điểm của văn hóa ẩm thực ở Hoà Bình được đề cập
    trong đoạn ngữ liệu trên.
    2. Tìm hiểu một số món ăn tiêu biểu ở Hoà Bình
    Thịt muối chua
    Thịt lợn muối chua là đặc sản của xứ
    Mường ở Hoà Bình. Thịt lợn ướp với men

    14

    của lá rừng cùng gạo rang giã nhỏ trong thời
    gian khoảng 60 phút. Sau đó lấy lá chuối
    rừng hơ trên lửa, lau sạch rồi lót vào đáy bồ
    làm bằng tre, nứa, trước khi đưa thịt vào bồ.
    Phần dưới của bồ (trên của lá chuối) được
    rải một lớp gạo rang nhỏ trộn với muối rang
    sau đó xếp thịt lên, cứ một lần xếp thịt lại
    rải một lần gạo rang với muối. Đậy kín nắp
    bồ bằng lá chuối và để bồ thịt muối trên gác
    bếp. Sau một đến hai tuần, men rượu, men
    lá và các loại gia vị ngấm vào từng thớ thịt,
    mang đến vị mặn mặn, chua chua đặc biệt
    của món ăn. Món này thường được ăn kèm
    với các loại lá rừng.

    Hình 2.3. Thịt muối chua

    Cơm lam
    Cơm lam là món ăn của núi rừng, là
    một thứ đặc sản và cũng là một phần của
    văn hoá ẩm thực của Hoà Bình. Cơm lam
    được làm từ nguyên liệu gạo nếp, ống
    nứa (tre), lá chuối… Người Thái làm
    bằng cách bỏ gạo nếp vào ống tre đã chọn
    lọc và nút lại bằng lá chuối khô. Đốt một
    đống lửa to, chờ lửa cháy đượm, bắt đầu
    xếp các ống cơm lên. Trong lúc nướng
    phải xoay ống tre thật đều. Người có kinh
    nghiệm, không cần bấm giờ vẫn có thể
    biết cơm đã chín chưa thông qua mùi vị
    toả lên xung quanh. Khi thưởng thức, vị
    dẻo của gạo nếp hoà quyện vào mùi thơm
    của ống tre và lá chuối tạo nên một hương
    vị đặc biệt.

    Hình 2.4. Cơm lam

    Măng chua nấu thịt gà
    Măng chua nấu thịt gà là đặc sắc ẩm
    thực của người Mường, một món ăn mang

    15

    đậm hương vị núi rừng. Gà được chọn nấu
    canh măng chua là loại gà đồi được thả nên
    thịt săn chắc, dai và thơm. Gà được làm
    sạch rồi chặt miếng nhỏ, ướp cùng chút
    gia vị và măng chua cho ngấm. Sau đó,
    phi thơm hành mỡ rồi cho măng cùng thịt
    gà vào đảo đều cho đến khi săn lại. Thêm
    chút nước ngập thịt gà, đun lửa liu riu cho
    đến khi gà chín mềm, tỏa mùi măng chua
    thơm nức. Món gà nấu măng chua không
    thể thiếu một loại gia vị quen thuộc ở vùng
    núi Hoà Bình, đó là hạt dổi với vị hăng,
    thơm khiến món ăn có mùi vị rất hấp dẫn.

    Hình 2.5. Măng chua nấu thịt gà

    Rau thập cẩm đồ
    Đặc trưng nhất trong ẩm thực của
    người Mường là các món đồ trong đó có
    rau thập cẩm đồ. Món rau đồ tuy dân dã
    nhưng là một nét đặc biệt trong ẩm thực
    Hoà Bình. Món rau đồ quen thuộc gồm rau
    rừng, các loại lá thập cẩm trong vườn nhà
    (hoa chuối, lá đu đủ, rau beo, rau tầm bóp,
    cà quẹng, rau đốm…). Rau được rửa sạch
    và đồ trong khoảng 30–40 phút. Lúc ăn,
    rau chấm nước lòng cá tạo nên sự đan xen
    trong vị giác (chút đắng, cay, chua, chát,
    ngọt, bùi…) để lại dư vị khó quên.

    Hình 2.6. Rau thập cẩm đồ

    – Lựa chọn những thông tin đúng về ẩm thực của các dân tộc ở
    Hoà Bình.

    a) Hoà Bình có nhiều món ăn lạ, độc đáo của các dân tộc sinh sống lâu đời nơi đây.
    b) Các món ăn của Hoà Bình thường chế biến với các loại rau củ mang đậm đặc
    trưng và hương vị núi rừng.

    16

    c) Cơm lam là món ăn đặc trưng của dân tộc Thái được làm từ gạo tẻ.
    d) Món rau đồ thường chấm với nước mắm tạo nên vị đậm đà khó quên.
    e) Gia vị không thể thiếu trong món măng chua nấu thịt gà là hạt dổi.
    – Tìm hiểu về một trong những món ăn tiêu biểu của Hoà Bình
    được đề cập trong ngữ liệu trên các phương diện: món ăn, dân tộc,
    nguyên liệu, cách chế biến.

    1. Trao đổi cùng bạn về những món ăn trong sinh hoạt đời thường và ẩm thực trong
    lễ tết của các dân tộc ở Hoà Bình.

    Ẩm thực trong sinh
    hoạt đời thường

    Ẩm thực trong
    lễ tết

    2. Viết công thức chế biến món ăn truyền thống em yêu thích.

    Tên món ăn

    Nguyên liệu

    17

    Cách
    chế biến

    3. Xây dựng dự án quảng bá món ăn truyền thống của dân tộc.

    TÊN DỰ ÁN
    ..................................................................................

    • Tên nhóm:
    • Các thành viên:
    • Nội dung dự án:
    • Kế hoạch thực hiện:
    • Thời gian:
    • Việc làm cụ thể:
    • Phân công:

    TÌM HIỂU THÊM

    Văn hoá ẩm thực ở Hoà Bình
    … Ngoài cách thức khai thác, nuôi trồng, chế biến thực phẩm thành các món ăn thì cách
    ăn, cách ứng xử với những người cùng ăn cũng là những nét văn hoá đáng chú ý trong
    sinh hoạt ẩm thực của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình. Cho đến nay, trong bữa ăn ngày
    thường cũng như ngày lễ, tết, người ta vẫn tự giác giữ tôn ti trật tự khi ngồi bên mâm cơm.
    Mâm cơm thường đặt ở gian giữa, ngay trước bàn thờ của người Mường, người Dao, người
    Mông…, còn người Thái thì đặt mâm cơm ở nơi tiếp khách của gian giữa nhà. Ông chủ nhà

    18

    ngồi xếp chân bằng tròn vào chỗ đã ấn định, khách (nếu có) được xếp ngồi bên trái chủ nhà,
    người con trai cả hay người kế vị chủ nhà sẽ ngồi bên phải, tiếp đó mọi người chủ động ngồi
    vào vị trí của mình… Trong bữa ăn, mọi người luôn giữ ý tứ, thường nhường nhịn nhau,
    dành những miếng ngon mềm cho người già, trẻ nhỏ, phụ nữ đang cho con bú, người ốm
    yếu, người lao động chính của gia đình. Đến nay, người Dao vẫn giữ nếp quen đã ngồi bên
    mâm cơm rồi nhưng vẫn phải chờ đủ người mới cầm bát đũa để ăn.
    Người miền núi Hoà Bình xưa nay vốn rất thảo, rất quý người và hiếu khách. Khi khách
    đến nhà, dù là khách lạ, nếu ở lại ăn cơm thì được gia đình tiếp đãi ân cần, trong nhà có thứ
    gì ngon đều mang ra mời khách. Khách là đàn ông thì bao giờ cũng được mời uống rượu.
    Vào dịp lễ Cơm mới của người Thái, người Mường,… những người đến góp vui với gia đình,
    nhiều khi còn được chủ nhà biếu quà mang về.
    Mặc dù không có tín ngưỡng thờ động vật có liên quan đến ẩm thực nhưng người ta cũng
    kiêng ăn thịt con vật nào đó trong một hoàn cảnh nhất định. Người Thái trong ngày tết Cơm
    mới làm cỗ cúng tổ tiên chỉ bằng cá chứ không dùng thịt động vật, dù là hoang dã hay gia
    súc, gia cầm. Sự kiêng kị này bắt nguồn từ một truyện dân gian xưa. Đôi vợ chồng trẻ không
    nỡ làm thịt con gà mái đang nuôi con để cúng bố, thay cho thịt gà, họ làm cỗ cúng bằng cá.
    Người Dao thì lại kiêng trong hoặc sau bữa ăn, không đặt đũa lên ngang miệng bát ăn cơm vì
    họ cho rằng chỉ khi cúng người chết mới để đũa như vậy…
    (Địa chí tỉnh Hoà Bình, NXB Chính trị quốc gia, 2020)

    19

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG

    3. TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA DÂN TỘC MƯỜNG

    Học xong chủ đề này, em sẽ:

    ► Mô tả được sự hình thành và phát triển tiếng nói, chữ
    viết của dân tộc Mường.
    ► Nêu được đặc điểm tiếng nói và chữ viết của dân tộc
    Mường.
    ► Có ý thức giữ gìn, bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân
    tộc Mường

    – Hãy nói, viết lời chào bằng tiếng của dân tộc em.
    – Em có cảm xúc gì khi nói và viết bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình?

    1. Sự hình thành và phát triển tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mường
    Tiếng Mường là tiếng mẹ đẻ của dân tộc Mường. Về mặt ngữ hệ (nguồn gốc), tiếng
    Mường và tiếng Việt đều có một nguồn gốc chung là thuộc nhóm Việt Mường. Xét từ góc
    độ loại hình học, tiếng Mường có cùng loại hình với tiếng Việt, thuộc loại hình ngôn ngữ
    đơn lập. Xét từ góc độ chức năng, tiếng Mường là ngôn ngữ dùng để giao tiếp trong nội bộ
    dân tộc Mường, bên cạnh tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia.

    20

    Trước đây, dân tộc Mường chưa có chữ viết. Thực tiễn phát triển giáo dục và văn hoá
    Mường đã đặt ra yêu cầu cần có bộ chữ Mường cho tiếng Mường. Sau thời gian nỗ lực thực
    hiện, ngày 8/9/2016, UBND tỉnh Hoà Bình có Quyết định số 2295/QĐ–UBND về việc phê
    chuẩn Bộ chữ dân tộc Mường đồng thời ban hành kế hoạch về triển khai ứng dụng Bộ chữ
    dân tộc Mường tại tỉnh Hoà Bình.
    2. Chữ viết của dân tộc Mường
    Bộ chữ dân tộc Mường đã được công bố gồm 28 chữ cái; 24 phụ âm đầu; 1 âm đệm. Tiếng
    Mường có 14 nguyên âm gồm 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi. Âm cuối tiếng Mường
    gồm 9 phụ âm và 2 bán nguyên âm. Tiếng Mường có 5 thanh điệu, 152 vần… Bộ chữ dân tộc
    Mường tại tỉnh Hoà Bình được xây dựng trên cơ sở đảm bảo tính pháp lí, tính khoa học và sự
    đồng tình của bà con dân tộc Mường tại tỉnh Hoà Bình.
    Sự ra đời của bộ chữ là một sự kiện lớn của dân tộc Mường nói riêng và tỉnh Hoà Bình
    nói chung. Người Mường đã có bộ chữ viết ghi lại tiếng nói của dân tộc, góp phần giữ gìn
    và phát triển kho tàng văn hoá đồ sộ của dân tộc mình.

    a

    Ă

    â

    B

    C

    d

    đ

    E

    Ê

    G

    h

    i

    K

    l

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    m

    N

    o

    Ô

    Ơ

    p

    r

    T

    U

    Ư

    v

    w

    X

    z

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    21

    22

    23

    24

    25

    26

    27

    28

    Bảng chữ cái tiếng Mường
    (Theo BỘ CHỮ DÂN TỘC MƯỜNG TẠI TỈNH HOÀ BÌNH – Quyết định số: 2295/QĐ–UBND
    ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình)

    – Lựa chọn thông tin đúng về tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mường
    ở Hoà Bình.

    21

    STT

    Thông tin

    1

    Ngôn ngữ Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường.

    2

    Tiếng Mường có nhiều điểm tương đồng với tiếng Việt do cùng hệ ngôn ngữ.

    3

    Chữ viết và tiếng nói của dân tộc Mường tồn tại song song trong đời sống dân tộc.

    4

    Sự ra đời chữ viết của dân tộc Mường có ý nghĩa quan trọng trong việc lưu giữ
    các giá trị văn hoá của người Mường.

    5

    Bộ chữ dân tộc Mường có ít chữ cái hơn tiếng Việt.

    – Giới thiệu về bộ chữ dân tộc Mường. So sánh bộ chữ cái của dân tộc
    Mường so với bộ chữ cái của tiếng Việt?

    1. Xác định vai trò của tiếng nói chữ viết trong đời sống của dân tộc Mường

    Giúp mọi người giao tiếp với nhau
    Vai trò

    ?

    ?

    22

    2. Chia sẻ về các việc nên làm để bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mường.
    Thường xuyên sử dụng tiếng nói, chữ
    viết của dân tộc.
    ?
    Việc nên làm

    ?
    ?

    3. Ngày nay, nhiều người không thích sử dụng ngôn ngữ dân tộc mình và dẫn đến
    hiện tượng “mai một” tiếng nói, chữ viết của dân tộc. Em nghĩ gì về hiện tượng này?
    Hãy trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn từ 5 – 7 câu.

    4. Sưu tầm một số tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Mường (gợi ý: Tên tác phẩm,
    nội dung chính, ý nghĩa...).

    23

    HOÀ BÌNH TỪ THẾ KỈ XVII
    ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX

    4. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HOÁ
    Ở HOÀ BÌNH TỪ THẾ KỈ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX

    Học xong chủ đề này, em sẽ:
    ► Trình bày được một số nét nổi bật về tình hình chính
    trị, kinh tế, xã hội ở Hòa Bình từ thế kỉ XVII đến cuối
    thế kỉ XIX.
    ► Nêu được những chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã
    hội ở Hoà Bình sau khi bị thực dân Pháp xâm lược đến
    đầu thế kỉ XX.
    ► Có ý thích tìm hiểu, sưu tầm tư liệu, tranh ảnh về nền
    kinh tế, chính trị, xã hội ở Hòa Bình từ thế kỉ XVII đến
    đầu thế kỉ XX.

    Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, vùng đất Hoà Bình đặt dưới sự cai quản của Lang
    đạo, Phìa tạo phong kiến. Nửa cuối thế kỉ XIX, sau khi đánh chiếm Hoà Bình, thực dân
    Pháp đặt tên tỉnh Mường nhằm thi hành những chính sách chia rẽ khối đoàn kết của cộng
    đồng các dân tộc ở Hoà Bình. Tuy vậy, với truyền thống của quê hương và ý thức dân tộc
    sâu sắc, nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình vừa xây dựng quê hương, vừa đấu tranh chống
    ngoại xâm và tay sai. Vì vậy, mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá ở quê hương Hoà
    Bình có nhiều chuyển biến.
    Em hãy chia sẻ những hiểu biết của mình về truyền thống xây dựng và
    bảo vệ quê hương của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình. Theo em, truyền
    thống được phát huy như thế nào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê
    hương Hoà Bình trong các thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX?

    24

    1. Hoà Bình từ đầu thế kỉ XVII đến năm 1886
    a) Tình hình chính trị
    Từ đầu thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, tình hình chính trị ở vùng đất Hoà Bình vẫn giữ
    những đặc trưng truyền thống như thời phong kiến trước đó. Cai quản ở các địa phương là thổ
    tù thuộc dòng dõi họ Đinh, họ Quách, họ Bạch, họ Hà.
    Năm 1831, triều đình nhà Nguyễn lập ra đơn vị cấp tỉnh, lúc đó Hoà Bình thuộc tỉnh Hưng
    Hóa. Dưới thời nhà Nguyễn, nhiều cuộc đấu tranh chống triều đình do các nhà lang họ Quách,
    họ Đinh lãnh đạo đều nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc Mường, Thái và một số
    dân tộc khác.
    Ngoài việc sử dụng biện pháp trấn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân, triều đình nhà
    Nguyễn còn thay đổi một số chính sách đối với Hoà Bình như: đặt các chức quan là người địa
    phương để quản lý, xây dựng quân binh, ban tước và cấp đất cho quan ở địa phương để họ
    chiêu tập dân canh tác và thu tô.
    Năm 1853, vua Tự Đức lập cho khôi phục lại chế độ thổ ty, đồng thời cắt ba xã Cao Phong,
    Thạch Yên, Quỳnh Lâm từ huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Hưng Hóa cho lập thành tổng Cao Phong,
    huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
    b) Tình hình kinh tế - xã hội
    Đến đầu thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX, nền kinh tế của Hoà Bình vẫn là một nền kinh
    tế nông nghiệp kĩ thuật lạc hậu, mang tính tự cung, tự cấp.
    Ruộng đất các châu, huyện hầu hết đều là ruộng tư của tầng lớp trên gọi là ruộng Lang.
    Một số nghề thủ công tiếp tục được phát triển như: nghề dệt vải, làm nông cụ và đồ dùng sinh
    hoạt… Công nghiệp hầu như không có gì, giao thông đi lại khó khăn.
    Chính sách thuế khóa nặng nề và những luật lệ hà khắc của chế độ lang đạo, phìa tạo làm
    cho cuộc sống của nhân dân xơ xác, kiệt quệ.
    Dưới chế độ nhà Lang ở khu vực người Mường và Phìa, tạo ở khu vực người Thái, xã hội
    ở Hoà Bình ngày càng phân hoá sâu sắc. Tầng lớp quan Lang, Phìa tạo được triều đình tạo
    điều kiện để bóc lột nhân dân, tầng lớp mo chang và binh dõng ngày càng có nhiều đặc quyền
    đặc lợi. Nhân dân lao động ngày càng bị áp bức, bóc lột nặng nề.

    25

    TRIỀU ĐÌNH PHONG KIẾN

    PHÌA, TẠO
    MO CHANG, BINH DÕNG

    THỔ TÙ, QUAN LANG
    MO CHANG, BINH DÕNG

    – Có đặc quyền, đặc lợi về chính trị, kinh tế
    Nhân dân lao động: bị áp bức bóc lột
    nặng nề
    Hình 4.1. Sơ đồ xã hội ở Hoà Bình thời phong kiến (trước năm 1886)

    – Nêu những nét chính về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Hoà Bình
    từ thế kỉ XVII đến trước năm 1886.

    2. Hoà Bình từ năm 1886 đến đầu thế kỉ XX
    a) Chuyển biến về chính trị
    Năm 1884, thực dân Pháp làm chủ được các tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa và thiết
    lập nền thống trị của chúng trên vùng đất mới chiếm được.
    Ngày 22–6–1886, Kinh lược sứ Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hợp ký Nghị định cắt vùng đất có
    đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Ninh Bình, Sơn Tây, Hà Nội thành lập tỉnh
    Mường, tỉnh lỵ là Chợ Bờ.
    Năm 1896, thực dân Pháp cho phát hành bản đồ tỉnh Mường, tỉnh lỵ chuyển về thị xã Hoà
    Bình, từ đây tỉnh Mường chính thức được gọi là tỉnh Hoà Bình.
    Công sứ người Pháp là người nắm mọi quyền hành ở tỉnh Hoà Bình. Giúp việc có viên Phó
    Công sứ, viên Giám binh chỉ huy toàn bộ lính người Việt (lính khố xanh) trong tỉnh, có một
    số công chức là người Kinh, người Mường, hoặc người Thái.
    Viên Công sứ Pháp lập ra Hội đồng quan lang (12 người), Hội đồng cử ra một Chánh quan
    lang, một Phó quan lang. Để tăng cường hiệu quả của bộ máy chính quyền tay sai, năm 1927
    thực dân Pháp lập chức Tuần phủ và đưa người Kinh lên Hoà Bình để giữ chức vụ này.

    26

    Hình 4.2. Bản đồ hành chính tỉnh Mường năm 1896

    – Từ năm 1886 đến đầu thế kỉ XX, tình hình chính trị ở Hoà Bình có
    gì nổi bật?

    b) Chuyển biến về kinh tế
    Tư sản Pháp lập đồn điền ở Hoà Bình như đồn điền chè, đồn điền trẩu ở huyện Lương
    Sơn; đồn điền sơn, đồn điền sắn ở xã Hào Tráng, xã Tu Lý huyện Đà Bắc. Trong đó, có đồn
    điền có quy mô 500 hécta của nhà tư sản Pháp Sốt và Mác-năng thành lập 1886 ở huyện
    Lạc Thuỷ.
    Đối với ruộng đất của nhà Lang, chính quyền thực dân ở Hoà Bình quy định lại, nhà Lang
    không còn toàn quyền sở hữu đất đai trong làng bản, còn Ậu đạo cũng không có quyền lợi
    như trước.
    Đầu thế kỉ XX, nền công nghiệp ở Hoà Bình hầu như không có gì, ngoại trừ việc một số
    công ty tư bản Pháp tiến hành tìm kiếm và thử khai thác các mỏ khoáng sản như mỏ than ở
    Làng Ngoi (cách Chợ Bờ 3 km); mỏ chì ở Hiền Lương (Đà Bắc)...

    27

    Việc giao lưu buôn bán rất hạn chế, chỉ có một số chợ ở thị xã, thị trấn như: chợ Phương
    Lâm, Chợ Bờ, chợ Vụ Bản... Ít có hoạt động giao lưu với các khu vực khác ngoài vùng Tây
    Bắc bằng đường thuỷ trên sông Đà.
    Nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình vẫn duy trì các nghề thủ công truyền thống mang dấu ấn
    dân tộc sâu đậm như nghề dệt thổ cẩm, mây tre đan, làm gốm… của đồng bào Mường, Thái,
    Mông, Dao, Tày…
    – Dưới tác động của chính sách cai trị thời phong kiến, thực dân
    (từ đầu thế kỉ XIX đến trước năm 1930), nền kinh tế Hoà Bình có
    chuyển biến như thế nào?

    c) Chuyển biến về xã hội
    Chính quyền thực dân Pháp tại Hoà Bình áp dụng chính sách dùng người Mường trị người
    Mường và chia rẽ người Mường với các dân tộc xung quanh. Xã hội Hoà Bình có 2 tầng lớp:
    tầng lớp thống trị là quan lang được thực dân Pháp đưa vào hệ thống chính quyền từ cấp tỉnh
    đến làng xã và tầng lớp bị trị là đông đảo nhân dân lao động nhất là nông dân, họ bị mất ruộng
    đất và phải gánh chịu chế độ tô thuế, phu phen, tạp dịch hết sức nặng nề.
    CÔNG SỨ PHÁP

    CHÁNH QUAN LANG
    (khu vực người Mường)

    PHÌA, TẠO
    (khu vực người Thái)

    – Có đặc quyền, đặc lợi về chính trị, kinh tế
    Nhân dân lao động: bị áp bức bóc lột
    nặng nề
    Hình 4.3. Sơ đồ xã hội ở Hoà Bình thời thực dân phong kiến

    Nhân dân các dân tộc Hoà Bình, trừ các thế lực tay sai của đế quốc, phong kiến lang đạo,
    phìa tạo, đều chịu ảnh hưởng bởi chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp. d) Về văn hoá

    28

    Hình 4.3. Chiêng Mường thể hiện uy quyền và sự giàu có của nhà lang
    (hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Di sản văn hóa Mường – Thành phố Hoà Bình)

    Hình 4.4. Nhà Noóc trọi của người dân trong mường
    (hiện vật phục dựng tại bảo tàng Không gian văn hóa Mường – Thành phố Hoà Bình)

    – Hãy nêu và nhận xét về sự chuyển biến xã hội trước và sau khi
    thực dân Pháp đặt ách cai trị ở Hoà Bình (1886).

    29

    d) Về văn hoá
    Từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX, ở Hoà Bình ngoài văn học dân gian, văn hoá đã xuất
    hiện văn học viết. Người dân tộc Mường chiếm tỷ lệ đông nhất, mặc dù chưa có chữ viết
    chính thức nhưng người Mường vẫn có hình thức ghi lại tiếng Mường theo cách dùng chữ
    quốc ngữ để ghi chép ngôn ngữ văn hoá Mường, có người dùng chữ Hán để ghi chữ Mường
    theo cách của chữ Nôm (có thể gọi là chữ Nôm Mường).
    Người Thái có chữ viết sớm, chủ yếu dùng để ghi chép luật tục bản mường, gia phả, tru...
     
    Gửi ý kiến