Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC
https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU
Tài liệu GDĐP lớp 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:32' 20-04-2024
Dung lượng: 32.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:32' 20-04-2024
Dung lượng: 32.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Thị Thu Thuỷ – Đinh Thị Hường (đồng Tổng Chủ biên)
Hà Văn Minh – Dương Thị Oanh – Nguyễn Việt Khôi – Trịnh Thị Thu Hà
Trần Thị Mai Phương – Bùi Thị Kim Anh (đồng Chủ biên)
Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Vũ Thị Lan – Nguyễn Thị Huyền – Nguyễn Thị Hương
Phùng Tôn Quyền – Võ Thị Sương – Trần Ngọc Diệu Linh – Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Nguyễn Mạnh Hùng – Vũ Xuân Thanh
Phạm Hùng – Nguyễn Duy Tiến – Nguyễn Thị Thu Nguyệt
LỜI NÓI ĐẦU
Các em yêu quý!
Các em đang sống trên mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ
sinh sống và cho đến nay, vẫn còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hoá rực rỡ mang
tên: Văn hoá Hoà Bình.
Tỉnh Hoà Bình là cửa ngõ vùng Tây Bắc của nước ta, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
4.600 km². Hoà Bình có địa hình đồi núi trùng điệp với nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều khu, điểm
du lịch hấp dẫn như động thác Bờ, thác Mu, quần thể di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng
cảnh hang động chùa Tiên, bản Lác... Hoà Bình có nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình, được xây
dựng trên dòng sông Đà, là một trong các nhà máy thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á
và là biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô cũ (nay là Cộng hoà Liên bang Nga).
Hoà Bình còn có nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh nguyên liệu tập trung, được phát
triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím, vùng bưởi huyện Tân
Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc... Trên
địa bàn tỉnh có sáu thành phần dân tộc sinh sống, gồm: Mường, Thái, Kinh, Dao, Mông, Tày.
Các dân tộc vừa giữ gìn bản sắc văn hoá riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn
hoá các dân tộc khác trong cộng đồng.
Cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7 sẽ góp phần trang bị cho các em
những hiểu biết cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội,
môi trường của tỉnh Hoà Bình. Từ đó, góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương; ý
thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học trong nhà trường với những vấn đề đặt ra ở địa
phương; giúp các em hoà nhập với môi trường đang sinh sống, có trách nhiệm hơn trong việc
tìm hiểu, gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương, góp phần xây dựng
tỉnh Hoà Bình ngày càng giàu đẹp.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7 gồm 14 chủ đề, thuộc 7 lĩnh vực:
văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội, môi trường của tỉnh Hoà
Bình. Mỗi bài học được cấu trúc làm 4 phần: Mở đầu; Kiến thức mới; Luyện tập; Vận dụng.
Để học tốt Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7, các em hãy đọc kĩ hướng
dẫn và hoàn thành các nhiệm vụ trong từng bài học.
Hi vọng rằng, mỗi bài học trong cuốn tài liệu này sẽ là những khám phá mới mẻ giúp các
em hiểu nhiều hơn, yêu quý, tự hào và có trách nhiệm hơn về quê hương Hoà Bình yêu dấu.
CÁC TÁC GIẢ
3
M Ụ C LỤ C
STT
Tên chủ đề
Trang
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1
Văn hoá chiêng trong đời sống dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình
7
2
Trang phục truyền thống của các dân tộc ở Hoà Bình
11
3
Ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình
17
4
5
6
Tình hình kinh tế, xã hội và phong trào đấu tranh chống chế độ
phong kiến ở Hoà Bình (X – XVI)
Nhân dân các dân tộc Hoà Bình tham gia phong trào đấu tranh
chống ngoại xâm và nội phản trong các thế kỉ (X – XVI)
Những thành tựu văn hoá tiêu biểu ở Hoà Bình trong các thế kỉ
(X – XVI)
24
30
35
ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP
7
Dân cư tỉnh Hoà Bình
40
9
Lao động, việc làm và chất lượng cuộc sống của dân cư Hoà Bình
52
Khái quát nền kinh tế tỉnh Hoà Bình
58
Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với các ngành nghề ở địa phương
64
10
CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG
12
Truyền thống đoàn kết các dân tộc tỉnh Hoà Bình
72
13
Bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ở Hoà Bình
81
Giải thích thuật ngữ
82
Nguồn tư liệu ảnh, bài
83
4
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Mục tiêu bài học:
Nhấn mạnh về yêu cầu cần đạt,
năng lực và phẩm chất, thái độ học
sinh cần đạt được sau khi học.
Mở đầu:
Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập
học sinh cần giải quyết; kết nối với
những điều học sinh đã biết, nêu
vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo
hứng thú đối với bài mới.
Kiến thức mới:
Thông qua các nội dung (kênh hình,
kênh chữ) và các hoạt động học
tập, học sinh được khai thác và tiếp
nhận kiến thức mới.
5
Luyện tập:
Là các câu hỏi, bài tập, thực hành
để củng cố kiến thức, rèn luyện các
kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.
Vận dụng:
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết các tình huống, vấn đề
trong thực tiễn.
6
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1. VĂN HOÁ CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG
DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được những nét cơ bản về chiêng của dân
tộc Mường.
► Nêu được vai trò của chiêng Mường trong đời sống
dân tộc Mường.
► Có hành động giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của
văn hoá chiêng trong đời sống dân tộc Mường.
Quan sát hình ảnh sau và cho biết mọi người đang chơi nhạc cụ gì? Nhạc cụ đó
thường được sử dụng vào những dịp nào?
Hình 1.1
7
1. Khái quát một số đặc điểm của chiêng Mường ở Hoà Bình
Chiêng là nhạc cụ xa xưa, phổ biến của người Mường gắn liền với thời đại đồ đồng thời
Vua Hùng dựng nước, khi hai dân tộc Việt – Mường chưa chia tách. Chiêng gắn bó chặt chẽ
với đời sống văn hoá, sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của người Việt cổ.
Về chính xác thời điểm người Việt cổ sáng tạo đúc nên chiêng chưa thể xác định được,
song hoạ tiết có trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ có những hình người đánh chiêng.
Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình theo tài liệu của Bảo tàng tỉnh tại khu mộ cổ Chăm Mát người
dân đã phát hiện một chiếc chiêng cổ được úp lên mặt một trống đồng. Đây là trống có niên
đại sớm từ khoảng thế kỉ (TK) II – TK V sau công nguyên. Riêng chiêng vì không trang trí
hoa văn nên rất khó xác định niên đại nhưng với kiểu dáng và mức độ thô sơ của nó thì có
thể nói đây là những chiếc chiêng sớm nhất hiện nay được biết đến ở tỉnh Hoà Bình.
Chiêng là nhạc cụ được làm bằng kim loại đồng, hình tròn, có núm, thường được người
Mường dùng trong các dịp lễ, tết. Chiêng khác với cồng – từ dùng để chỉ loại nhạc cụ hình
tròn, to bằng miệng thúng, không có núm, còn gọi là “Lệnh” dùng khi vua quan truyền lệnh.
Tuy nhiên, người dân vẫn gọi loại chiêng dùng trong lễ hội với tên chung là cồng chiêng.
Chiêng được người Mường sử dụng khá linh hoạt. Tuỳ theo từng công việc, từng nghi lễ có
thể sử dụng đơn chiếc, thành dàn nhỏ từ 2 – 3 chiếc, song chủ yếu được đồng bào sử dụng
theo dàn. Một dàn chiêng đầy đủ có 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong năm do 12
người cầm, tấu theo những bản nhạc, điệu thức nhất định.
Việc đánh, tấu chiêng cũng tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh sử dụng. Có thể phân làm
ba hoàn cảnh: trong đời thường, trong nghi lễ tín ngưỡng, tang ma và trong lễ hội, ngày tết,
ngày vui. Khi tấu từ 1 – 3 chiêng, người Mường gọi là đánh chiêng, nếu hoà tấu tập thể từ 4
chiêng trở lên được gọi là đánh bùa hoặc sắc bùa.
2. Vai trò của chiêng trong đời sống dân tộc Mường
Trong đời sống thường ngày, người Mường coi chiêng như vật thiêng, của quý trong nhà.
Ngoài việc sử dụng tạo ra âm thanh, họ coi đây là đồ có linh khí thiêng lành, xua đuổi tà ma
đem lại sự yên lành cho gia đình. Mặt khác chiêng còn là biểu tượng của sự giàu có, quyền
thế, có giá trị như thước đo vật chất về sự giàu sang của các gia đình, gia tộc xưa.
Trong đời sống hằng ngày, chiêng được người Mường sử dụng với chức năng thông
tin, báo hiệu. Họ cũng sử dụng tấu các bài sắc bùa trong các lễ hội dân gian, ngày tết,
ngày lễ...
8
Chiêng có vai trò quan trọng trong
đời sống văn hoá, tinh thần của
người Mường ở Hoà Bình. Những
giá trị tinh thần của văn hoá chiêng
đã và đang khẳng định sức sống
trong đời sống cộng đồng, cần
được bảo tồn và phát triển. Với giá
trị độc đáo và vai trò quan trọng
của chiêng Mường trong đời sống,
nghệ thuật chiêng Mường ở Hoà
Bình đã được công nhận là di sản
văn hoá phi vật thể của quốc gia
vào ngày 19/01/2016.
Hình 1.2. Chiêng Mường
(Theo Cồng chiêng trong đời sống người Mường
baohoabinh.com.vn)
– Tìm hiểu ngữ liệu, quan sát hình 1.2 và mô tả chiêng Mường ở Hoà Bình trên các
phương diện: hình dáng, chất liệu, cách sử dụng?
– Người Mường thường sử dụng chiêng trong những dịp nào? Kể một số hoạt động
sử dụng chiêng Mường mà em biết?
– Nêu vai trò của chiêng trong đời sống văn hoá dân tộc Mường Hoà Bình?
Thông tin,
báo hiệu
?
Vai trò
của chiêng
trong đời sống
dân tộc Mường ở
Hoà Bình
?
?
9
1. Chia sẻ những việc nên làm để giữ gìn và phát triển văn hoá chiêng của người
Mường ở Hoà Bình.
Tôi sẽ tìm hiểu
để biểu diễn được
chiêng Mường.
???
2. Đóng vai hướng dẫn viên giới thiệu về chiêng Mường ở Hoà Bình với khách
du lịch.
3. Có ý kiến cho rằng trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển của công nghệ
và các loại hình giải trí khác, nhiều người không còn thích các nhạc cụ truyền thống
trong đó có chiêng.
a. Em có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
b. Hãy viết một đoạn văn khoảng 5 – 7 câu thể hiện quan điểm của em.
10
2. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA
CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Mô tả được trang phục truyền thống của một số dân
tộc ở Hoà Bình.
► Trình bày được ý nghĩa của trang phục thuyền thống
trong đời sống của các dân tộc ở Hoà Bình.
► Có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị trang
phục truyền thống của các dân tộc ở Hoà Bình.
Em có thường mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình không? Đó là vào
những dịp nào?
1. Khái quát về trang phục truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có 6 dân tộc chính cùng chung sống lâu đời, gồm: Mường,
Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Nhìn chung, các dân tộc vừa có nét văn hoá, tín ngưỡng chung,
vừa có nét văn hoá truyền thống, tín ngưỡng riêng của từng dân tộc, độc đáo, phong phú, đa
dạng. Cùng với tiếng nói, trang phục là một di sản văn hoá truyền thống độc đáo, mang đặc
trưng rất dễ nhận biết của từng dân tộc, chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá trị lịch sử
của từng tộc người.
Mỗi dân tộc có tạo hình trang trí, sử dụng trang phục theo những đặc điểm văn hoá riêng.
Nét hoa văn, hoạ tiết, màu sắc của mỗi loại trang phục dân tộc có những nét độc đáo, thể
11
hiện bản sắc riêng, in dấu truyền thống văn hoá và phong tục của dân tộc đó. Tuy nhiên, thời
gian gần đây, trang phục truyền thống của một số dân tộc đang có dấu hiệu bị mai một dần.
Tại các địa phương, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số không còn mặc trang phục truyền
thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, mà chỉ mặc trong dịp lễ, Tết, lễ hội, đám hiếu,
hỷ… Không chỉ vậy, nhiều bạn trẻ còn e ngại và không biết mặc các bộ trang phục của dân
tộc mình đúng cách.
Để bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc trên địa bàn, tỉnh Hoà Bình đã
thực hiện nhiều giải pháp như tổ chức các cuộc trình diễn trang phục truyền thống, tuyên
truyền, quảng bá trên các phương tiên thông tin đại chúng, dạy kỹ năng nghề dệt thổ cẩm,
thêu hoa văn trên trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số… Những cách làm trên góp
phần quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, đáp ứng được
nguyện vọng chung của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Từ đó, đưa trang phục truyền thống
phổ biến hơn trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao lòng tự hào, ý thức
bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc.
– Nêu ý nghĩa của trang phục truyền thống trong đời sống các dân tộc
ở Hoà Bình?
– Những giải pháp nào được tỉnh Hoà Bình thực hiện để bảo tồn, phát
huy trang phục của các dân tộc thiểu số?
2. Tìm hiểu trang phục của một số dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
2.1. Trang phục của người Mường
a. Trang phục của nam giới
Nam giới người Mường thường mặc áo
cánh dài tay và áo dài. Áo cánh dài đến ngang
hông, thân trước xẻ thành hai vạt, đơm khuyết
và cài khuy ở hai nẹp áo. Cổ áo là cổ đứng,
hai lớp cao chừng 3cm, bên trong mỗi vai áo
thường lót một miếng vải hình bán nguyệt để
đứng áo. Gần sát gấu của hai vạt áo trước có
hai túi hình chữ nhật khá to đối xứng nhau.
Áo cánh không xẻ tà, tay áo dài đến mu bàn
tay, rộng vừa phải.
Áo dài thường được mặc kép, tức là mặc
lồng hai chiếc áo dài một lúc và thường buông
12
Hình 2.1. Trang phục nam giới Mường
dài đến ngang đầu gối, cài khuy lệch sang bên phải, hai bên xẻ tà tới ngang hông, cổ áo đứng
và cứng. Quần dài thường có màu trắng hay màu nâu nhằm tạo sự tương phản, hài hoà với áo
cánh hoặc áo dài. Ống và đũng quần khá rộng. Cạp quần rộng, có khi bằng một loại vải mỏng
được nối với thân quần.
Từ nhiều năm nay, trang phục truyền thống vẫn được người dân gìn giữ và thường được
mặc trong đám cưới, lễ tết hoặc liên hoan văn nghệ quần chúng.
b. Trang phục của nữ giới
Vẻ đẹp, nét độc đáo của trang phục người Mường tập trung ở trang phục nữ. Xưa nay,
phụ nữ Mường có hai loại áo: áo ngắn và áo dài.
Áo ngắn có thân ngắn, xẻ ngực, thường không có khuy. Cổ áo được khoét tròn, ống tay
áo bó sát cánh tay và dài quá cổ tay. Áo thường được khâu, may bằng loại vải bình thường
hoặc lụa, phần nhiều có màu trắng. Cũng có khi áo bằng vải màu sặc sỡ hoặc vải hoa bó
sát thân người.
Gần đây, chiếc áo ngắn được cải tiến, trang trí thêm túi, đường viền, thêu thùa chỉ màu
nhằm tạo điểm nhấn đẹp mắt. Áo dài chủ yếu mặc để tiếp khách hoặc vào ngày hội, lễ tết.
Thân áo dài quá đầu gối, nửa thân trên giống áo ngắn, nửa thân dưới buông thả rộng dần.
Trước kia, áo dài được dệt bằng vải sợi bông tự khâu, màu xanh sẫm hoặc đen, riêng áo dài
của các bà mế cao tuổi thường là màu trắng. Ngày nay, phụ nữ Mường may áo dài bằng các
chất liệu vải hiện đại như lụa, gấm, các loải vải sợi tổng hợp, chủ yếu để mặc trong ngày
tết hay lễ hội cổ truyền.
Váy của phụ nữ Mường gồm hai phần chính: cạp váy và thân váy. Vẻ đẹp độc đáo
mà trang nhã của váy Mường tập trung ở
cạp váy, được dệt, thêu với sự phối kết màu
sắc và hình hoạ rất công phu, tỉ mỉ. Cạp váy
Mường cổ truyền gồm ba dải thổ cẩm có hoa
văn khác nhau từ dưới lên. Phần thân váy
bằng vải sợi bông tự dệt để mặc hàng ngày
hoặc bằng lụa để mặc trong ngày lễ tết. Màu
thân váy chủ yếu là màu đen hoặc xanh tím.
Bên trong gấu váy lót vải đỏ hoặc xanh lá
chuối. Váy hình ống, ôm sát người từ eo lưng
xuống gần gót chân. Ngoài áo và váy, trang
phục phụ nữ Mường còn có các phụ kiện đi
kèm như khăn đội đầu, yếm, và bộ xà tích.
Hình 2.2. Trang phục nữ giới Mường
13
2.2. Trang phục của người Thái
a. Trang phục của nam giới
Áo của nam giới dân tộc Thái gồm áo
ngắn và áo dài. Áo ngắn dài tay mặc hằng
ngày bằng vải sợi bông thô tự dệt, nhuộm
màu chàm hay đen, gồm hai thân trước và
hai thân sau ghép lại với hai cánh tay. Áo xẻ
ngực, vạt áo có thùa khuyết và đính 4 – 5 nút
vải. Cổ áo tròn, đứng và cao 2cm. Tay áo dài
đến cổ tay và rộng vừa phải thuận tiện trong
sinh hoạt. Áo thường có ba túi: hai túi to hình
chữ nhật ở sát gấu hai vạt trước, một túi nhỏ
hình chữ nhật bên ngực trái. Áo dài xẻ ngực,
bằng vải mộc nhuộm đen hay chàm, bằng lụa,
sa tanh sẫm màu, buông dài xuống quá đầu
gối, thường mặc khi đi lễ hội…
Hình 2.3. Trang phục nam giới Thái
Quần dài bằng vải sợi bông thô nhuộm chàm, đen hay nâu sẫm, ống đứng, rộng, dài đến
sát gót chân. Cạp quần rộng là một dải vải trắng mềm, rộng khoảng 15cm, được nối liền
vào thân quần.
b. Trang phục của nữ giới
Áo ngắn của phụ nữ Thái ở Mai Châu có
nhiều màu như xanh, đỏ, trắng, tím, khoét cổ
tròn có đường viền nhỏ, xẻ hai bên vai để khi
mặc, chui đầu cho dễ. Thân áo dài 25 – 30 cm,
tay áo bó sát cánh tay. Khi mặc, phụ nữ Thái bỏ
gấu áo vào trong cạp váy rồi dùng dải thắt lưng
thắt lại để áo không sổ ra.
Áo dài thường có màu chàm, màu đen,
buông dài xuống đầu gối, xẻ ngực nhưng
không có khuy cài, không xẻ tà, chỉ mặc vào
mùa rét, dùng dải thắt lưng bằng vải trắng
rộng khoảng 20cm thắt lại để khép kín hai
vạt áo, một đầu thắt lưng buông xuống bên
hông trái.
Hình 2.4. Trang phục nữ giới Thái
14
Váy của phụ nữ Thái ở Mai Châu, Đà Bắc cho đến nay về cơ bản không thay đổi về kiểu
dáng và màu sắc, mặc dù chất liệu đã phong phú hơn trước nhiều. Đó vẫn là kiểu váy hình
ống, phía trên bó sát hông, phía dưới rộng dần và buông dài đến sát gót, cạp váy để trơn, có
một dải thắt lưng ôm quanh vòng bụng.
Ngoài ra, trang phục của phụ nữ Thái còn có khăn đội đầu, đồ trang sức gồm nhẫn, khuyên
tai, vòng cổ, vòng tay bằng bạc.
Ngày nay, trang phục truyền thống vẫn được phụ nữ Thái nâng niu gìn giữ và mặc trong
những ngày lễ, tết cổ truyền của dân tộc.
– Trình bày đặc điểm về chất liệu, kiểu dáng, màu sắc trên trang phục
truyền thống nam giới và nữ giới của một số dân tộc ở Hoà Bình?
1. Trang phục trong các hình dưới đây của dân tộc nào?
Hình 2.5
Hình 2.6
15
Hình 2.7
3. Chia sẻ với bạn về trang phục truyền thống của dân tộc em.
Trang phục phụ nữ
dân tộc tôi thường có
hoạ tiết rất đẹp.
???
4. Ngày nay, một số bạn trẻ có xu hướng không thích mặc trang phục truyền thống
của dân tộc mình. Em suy nghĩ thế nào về vấn đề này?
5. Chọn một trong hai nhiệm vụ sau:
a. Vẽ tranh về trang phục truyền thống của một trong các dân tộc ở Hoà Bình.
b. Viết 1 đoạn ngắn (khoảng 5 – 7 câu) giới thiệu về trang phục truyền thống của dân
tộc em.
16
3. CA DAO, TỤC NGỮ CỦA CÁC DÂN TỘC
Ở HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được đặc điểm ca dao, tục ngữ của các dân tộc
ở Hoà Bình.
► Nêu được ý nghĩa của ca dao tục ngữ trong đời sống tinh
thần của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình.
► Đọc hiểu được một số câu ca dao, tục ngữ từ đó viết và
trình bày được một số vấn đề liên quan đến ca dao, tục
ngữ của một số dân tộc ở Hoà Bình.
► Sưu tầm được một số bài ca dao, tục ngữ của địa phương.
► Có thái độ trân trọng ca dao, tục ngữ trên quê hương mình.
Đọc một bài ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình mà em biết.
1. Một số đặc điểm của ca dao, tục ngữ các dân tộc ở Hoà Bình
Bên cạnh truyện dân gian, các dân tộc ở Hoà Bình có nguồn ca dao, tục ngữ khá phong
phú, đa dạng, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của con người nơi đây. Ca dao, tục
ngữ Hoà Bình chủ yếu do nhân dân lao động các dân tộc sáng tác nên. Họ đã bộc lộ cảm xúc
chân thành, nồng hậu trong những tác phẩm trữ tình dân gian giản dị, mộc mạc. Tìm hiểu
ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình, chúng ta bắt gặp tiếng nói tâm hồn của những
người lao động và trí tuệ dân gian của người xưa.
Những câu ca dao thể hiện niềm tự hào của con người trước vẻ đẹp của những danh lam
thắng cảnh, địa danh; sự phong phú của những sản vật địa phương; tình yêu lao động; tình
17
cảm của con người với gia đình, bạn bè và tình yêu đôi lứa.Về hình thức, ca dao của các
dân tộc ở Hoà Bình thường thể hiện dưới dạng thơ lục bát (có khi là lục bát biến thể), hay
sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, phóng đại, điệp từ…
Tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình thường được xếp vào các chủ đề lớn như: tục ngữ
về địa danh, kinh nghiệm sản xuất, về đời sống sinh hoạt và gia đình.
Về hình thức, các câu tục ngữ đều có cấu trúc chặt chẽ, hàm súc, giàu hình ảnh. Đó là
những câu nói truyền lại một kinh nghiệm, hay đưa ra một lời nhận xét, khuyên nhủ của
các tác giả dân gian trong cuộc sống. Tục ngữ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, đậm sắc thái địa
phương, được người dân vận dụng vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.
– Nêu đặc điểm của ca dao, tục ngữ ở Hoà Bình theo gợi ý sau:
Đặc điểm
Ca dao
Nội dung
Hình thức
2. Tìm hiểu ca dao, tục ngữ của một số dân tộc ở Hoà Bình
2.1. Ca dao:
– Yêu nhau chẳng quản khó nghèo
Non cám cũng nuốt, già bèo cũng ăn.
– Đôi ta như cá thờn bơn
Nằm trên bãi cát bị cơn mưa rào
Đôi ta như cá dưới ao
Đi ra mắc lưới, chạy vào mắc câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra
Ước gì cột mọc cái hoa
Cho cua kéo hội cho ta lấy mình.
18
Tục ngữ
– Anh như bông quả trên cây
Thân em như cỏ may may dưới đường
Ước gì gió lớn nặng sương
Bông gạo xuống đường với cỏ may may.
(Ca dao dân tộc Mường)
2.2. Tục ngữ
– Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động.
a) Tục ngữ nói về các địa danh
và những đặc sản nổi tiếng
– Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lùi, tháng tới.
– Rau dớn mường Kha, ăn ngon hơn thịt gà xóm Mận.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
– Sấm mường Lạ, để dạ mà ăn.
– Sấm mường Ngay, quăng bừa cày lên gác.
b) Tục ngữ về kinh nghiệm sản
xuất, tri thức dân gian
– Mây kéo ngược chẳng có nước mà uống
Mây kéo xuống chẳng có ruộng mà cấy.
– Nắng tháng sáu được lúa
Nắng tháng chín mất mùa.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
c) Tục ngữ về xã hội và sinh
hoạt cộng đồng
– Một người đàn ông không dựng nổi nhà
Một người đàn bà không cắt nổi gianh.
– Thóc không phơi nắng sao khô vỏ
Người không đi đây đó sao khôn.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
d) Tục ngữ về gia đình
– Uốn cây uốn khi còn non
Uốn con uốn khi còn nhỏ.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
19
– Cây gẫy còn gốc
Thuyền vỡ còn mái chèo
Cha chết còn chú còn bác.
– Chim xa đàn chim kêu
Anh em xa nhau thì nhớ.
(Tục ngữ dân tộc Thái)
(Theo Ngữ văn địa phương tỉnh Hoà Bình, NXB Đại học Sư phạm, 2010)
– Các bài ca dao trên được viết theo thể thơ nào? và về chủ đề gì? Nêu cảm xúc của
nhân vật trữ tình trong các bài ca dao trên.
– Xác định cách gieo vần trong các câu tục ngữ trên. Việc gieo vần như vậy có tác
dụng gì?
– Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca dao thứ 2 và thứ 3. Nêu tác dụng
của biện pháp tu từ đó?
– Các câu tục ngữ ở trên bàn về những vấn đề gì trong cuộc sống? Em ấn tượng với
câu tục ngữ nào nhất? Vì sao?
– Nêu ý nghĩa của ca dao, tục ngữ trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc
ở tỉnh Hoà Bình.
Ca dao, tục ngữ
giúp đời sống tinh thần
của con người phong
phú hơn!
???
20
1. Em thích câu ca dao nào nhất trong các câu trên? Viết một đoạn văn khoảng 3
đến 5 câu thể hiện suy nghĩ của em.
2. Em có nhận xét gì về tri thức dân gian trong các câu tục ngữ đã tìm hiểu ở trên.
3. Chia sẻ những việc em nên làm để lưu truyền ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở
Hoà Bình.
Tôi sẽ sưu tầm ca
dao, tục ngữ của các
dân tộc ở Hoà Bình.
???
4. Sưu tầm một số bài ca dao, tục ngữ ở Hoà Bình và sắp xếp theo chủ đề.
Tình cảm
gia đình
CHỦ ĐỀ
Tình yêu
đôi lứa
Xã hội và sinh
hoạt cộng đồng
CHỦ ĐỀ
CHỦ ĐỀ
21
Tìm hiểu thêm
CA DAO
– Yêu nhau không lấy được nhau
Đi qua cửa ngõ ruột đau quằn quằn
Về nhà cơm chẳng buồn ăn
Nước chẳng buồn uống băn khoăn trong lòng.
– Đi đâu mà vội mà vàng
Dừng chân đứng lại ăn nang ăn trầu
Ăn rồi xin nhớ đến nhau
Đừng như vôi bạc mà sầu lòng em.
TỤC NGỮ
– Sai quả dâu gia được mùa lúa ruộng
Sai quả cha được mùa lúa nương.
– Hiểu con trai xem bờ ruộng
Xét đàn bà nhìn gấu váy.
– Ruộng hoang quý trâu đực
Mường có giặc quý người gan dạ.
– Cây trong rừng không bằng ngọn
Nhiều người, nhiều ý khác nhau.
– Bản nào, bản không có gà vàng
Mường nào, mường không có người giỏi.
22
– Anh em cãi nhau ba ngày không mất
Vợ chồng cãi nhau một buổi thành người dưng.
– Sấm đầu năm thượng nguồn sông Đà được lúa
Sấm đầu năm cuối nguồn sông Mã mất mùa.
– Sao mờ trời đầy nắng
Sao tỏ trời sẽ mưa.
– Hay làm người khoẻ mạnh
Lười làm người ốm yếu.
– Chớ thấy người hèn mà lấn tới
Chớ thấy người cứng rắn mà bỏ qua.
– Lên núi này thấy thấp
Nhìn núi nọ thấy cao.
(Tục ngữ dân tộc Thái)
(Theo Ngữ văn địa phương tỉnh Hoà Bình, NXB Đại học Sư phạm, 2010)
23
4. TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI
VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Ở HOÀ BÌNH (X – XVI)
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được một số nét nổi bật về tình hình chính
trị, kinh tế, xã hội ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối
thế kỉ XVI.
► Trình bày được những nét chính của các cuộc đấu
tranh chống lang đạo, phìa tạo của nhân dân các dân
tộc ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI.
► Có ý thức tìm hiểu và đánh giá về các sự kiện diễn ra
ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI.
Từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thi hành
chính sách mở rộng đoàn kết dân tộc đến vùng Tây Bắc nói chung và Hoà Bình nói riêng.
Trong thời kì này ở Hoà Bình có nhiều chuyển biến về kinh tế, văn hoá, xã hội. Tuy
nhiên, đây cũng là thời kì chế độ Lang đạo ngày càng hà khắc, mâu thuẫn giữa tầng lớp
thống trị và bị trị trở nên gay gắt.
• Em hãy kể tên một số dấu hiệu thể hiện sự chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hoá ở tỉnh Hoà Bình từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI mà em biết?
• Theo em, những chuyển biến đó chứng tỏ điều gì ở Hoà Bình trong các thế kỉ
X – XVI?
24
1. Tình hình chính trị
Ở khu vực người Mường, chế độ nhà Lang theo cha truyền con nối, con trai trưởng nhành
chính gọi là Lang cun được cai quản toàn mường lớn (mường chiềng), con trai trưởng của
nhánh thứ gọi là Lang đạo cai quản mường nhỏ (xóm, trại), phụ thuộc vào Lang cun. Nhà
Lang đưa ra luật lệ vô cùng hà khắc, bắt dân trong mường, trong bản phải thi hành.
Khu vực người Thái, người Dao do Tạo mường, Tạo bản cai quản. Tầng lớp này được
hưởng nhiều quyền lợi về kinh tế và nắm quyền thống trị ở mường, bản.
THỔ TÙ, LANG CUN, ĐẠI THỦ
QUAN, TẠO CHÂU, ÁN NHA
PHỤ ĐẠO, LANG ĐẠO,
PHÌA, TẠO MƯỜNG
MO, CHANG
BINH DÕNG
QUAN, QUAN LANG,
CHÂU HOÁ
DÂN CHÚNG
Sơ đồ Bộ máy quản lí hành chính ở các khu vực trên vùng đất Hoà Bình
từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVI
– Nêu những nét nổi bật về tình hình chính trị ở Hoà Bình trong các
thế kỉ (X – XVI).
2. Tình hình kinh tế, xã hội
Ở Hoà Bình, trong các thế kỉ (X – XVI) là nghề nông vẫn giữ vai trò chủ đạo. Ruộng
đất nằm trong tay nhà Lang, nên gọi là ruộng Lang. Ruộng Lang được truyền từ đời này
25
sang đời khác như: ruộng của họ Đinh ở Mường Bi, ruộng của họ Quách ở mường Vang…
Một số nhà Lang cung cấp phương tiện, trâu bò, lương thực cho dân đến khai phá, hình
thành ruộng đồng và xóm làng mới.
Hình 4.1. Cọn nước của người Mường Hoà Bình
Các nghề thủ công như: dệt vải, làm nông cụ hoặc một số sản phẩm phục vụ sinh hoạt vẫn
tiếp tục được phát triển. Tuy nhiên, nền kinh tế Hoà Bình vẫn là một nền nông nghiệp kĩ thuật
lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp.
Ở khu vực người Mường, xã hội theo chế độ nhà Lang có hai tầng lớp: tầng lớp thống trị
gồm Lang cun và Lang đạo, tầng lớp này có nhiều ruộng, sống dựa vào bóc lột người dân
trong mường. Tầng lớp bị trị là người dân trong mường (gọi là mol Mường), cuộc sống của
họ lệ thuộc vào nhà Lang hết đời này sang đời khác. Ngoài ra, trong xã hội người Mường
thời phong kiến còn có tầng lớp đứa nương hay còn gọi là Noóc Troọi, đây là những nông
dân nghèo từ nơi khác đến mường. Tuy được tự do hơn, ít phụ thuộc và Lang cun hơn so với
dân trong mường, nhưng thân phận thấp kém, nên mọi hoạt động của tầng lớp này diễn ra
ngoài xã hội người Mường.
Ở Mai Châu và Đà Bắc, là khu vực thống trị của Phìa, Tạo người Thái thông quan luật
mường nhằm bảo vệ chế độ thống trị của quý tộc Thái. Người dân trong các mường phải làm
cuông, nhốc cho nhà Tạo.
26
Như vậy, mâu thuẫn trong xã hội người Mường và người Thái là mâu thuẫn giữa tầng lớp
thống trị và bị trị, song do luật mường, lệ làng, nên ít có những cuộc đấu tranh lớn giữa người
dân với tầng lớp thống trị.
– Nêu đặc điểm, tính chất của nền kinh tế Hoà Bình trong các thế kỉ
(X – XVI).
– Xã hội ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI) có những tầng lớp nào?
Hãy nêu đặc điểm của các tầng lớp đó.
3. Đấu tranh chống sự hà khắc của chế độ Lang đạo, Phìa Tạo
Lang cun được coi như chúa đất, toàn bộ rừng núi, ruộng đất trong mường đều thuộc về
chúa đất, nhưng trên thực tế Lang cun chỉ trực tiếp cai quản mường trung tâm. Còn Lang
đạo và những người thuộc dòng họ Lang là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng trực tiếp bóc lột
người dân trong mường.
Người dân trong mường phải phục dịch trong gia đình nhà Lang, làm xâu cho Lang cun,
làm nõ cho Lang đạo. Ậu là quản lí trực tiếp người làm xâu – nõ, toàn bộ thu hoạch thóc
lúa ở ruộng xâu thuộc về Lang cun, ruộng nõ thuộc về Lang đạo. Ngoài ra, người dân trong
mường còn phải đi phiên, làm nô bộc cho nhà Lang trong các lễ tiết, hiếu hỉ.
Mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu
tranh chống chế độ Lang đạo đã diễn ra bằng các hình thức phế bỏ Lang, đuổi ra khỏi làng,
đón Lang nơi khác tới… Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nhân dân Hạ Bì (Kim Bôi), cuộc đấu
tranh ở xóm Khậm (Lạc Sơn).
Ở Mai Châu và Đà Bắc, tầng lớp Phìa, Tạo có quyền lợi về đất đai và có uy quyền đối
với các tộc người ở địa phương họ sống. Dựa vào Luật mường của người Thái, áp bức bóc
lột và gây ra nhiều bất công đối với người dân bản mường. Một số cuộc đấu tranh có quy
mô nhỏ, lẻ mang tính tự phát của người dân chống lại chế độ tạo, nhưng không thể thay đổi
được thân phận của người dân.
Tuy những cuộc đấu tranh chống chế độ Lang đạo của người Mường và đấu tranh chống
chế độ Phìa, Tạo của người Thái ở Hoà Bình đều thất bại, nhưng nó đã thể hiện được truyền
thống đấu tranh chống áp bức, bóc lột của nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình.
– Em hãy nêu những nét chính về cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột
của người dân Hoà Bình trong các thế kỉ X – XVI.
27
1. Em hãy lập bảng thống kê những nét nổi bật về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI) theo mẫu sau:
Nội dung
Nét nổi bật
Kinh tế
Chính trị
Xã hội
2. Trình bày nguyên nhân, kết quả của các cuộc đấu tranh chống sự hà khắc của chế
độ phong kiến của nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI).
– Dưới chế độ phong kiến từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI, người dân ở Hoà Bình bị
tầng lớp Lang đạo, Phìa, Tạo bóc lột như thế nào?
3. Em hãy đóng vai nhà nghiên cứu lịch sử nhỏ tuổi và giới thiệu với bạn bè về
một sự kiện lịch sử tiêu biểu về tổ chức bộ máy của nhà Lang hoặc Phìa, Tạo thời
phong kiến.
Tìm hiểu thêm
Điều ít biết về guồng nước của người Mường ở Hoà Bình
Guồng nước hay còn gọi là cọn nước, bánh xe nước vốn đã gắn với phương thức canh
tác của đồng bào Mường, đồng bào Thái ở Hoà Bình. Trong xã hội của người Mường, người
28
Thái xưa, chiếc guồng nước không chỉ thể hiện sự sáng tạo của cư dân trong việc dẫn nước
làm thuỷ lợi, mà nó còn thể hiện giá trị văn hoá truyền thống, mang tính đặc trưng của cộng
đồng các dân tộc nơi đây.
Chiếc guồng nước được chạy bằng sức đẩy của nước. Một bộ guồng thường có từ 3 đến 6
bánh xe, địa điểm đặt guồng nước phải tìm những con sông, con suối ăn khá sâu vào núi để
tránh lan toả thành khúc sông rộng và cũng không bao giờ được chọn nơi chảy xiết của lòng
sông chính.
Ở Hoà Bình, những địa điểm đặt guồng nước không nhiều, vả lại mỗi nơi đặt guồng chỉ
tưới được ...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Thị Thu Thuỷ – Đinh Thị Hường (đồng Tổng Chủ biên)
Hà Văn Minh – Dương Thị Oanh – Nguyễn Việt Khôi – Trịnh Thị Thu Hà
Trần Thị Mai Phương – Bùi Thị Kim Anh (đồng Chủ biên)
Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Vũ Thị Lan – Nguyễn Thị Huyền – Nguyễn Thị Hương
Phùng Tôn Quyền – Võ Thị Sương – Trần Ngọc Diệu Linh – Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Nguyễn Mạnh Hùng – Vũ Xuân Thanh
Phạm Hùng – Nguyễn Duy Tiến – Nguyễn Thị Thu Nguyệt
LỜI NÓI ĐẦU
Các em yêu quý!
Các em đang sống trên mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ
sinh sống và cho đến nay, vẫn còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hoá rực rỡ mang
tên: Văn hoá Hoà Bình.
Tỉnh Hoà Bình là cửa ngõ vùng Tây Bắc của nước ta, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
4.600 km². Hoà Bình có địa hình đồi núi trùng điệp với nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều khu, điểm
du lịch hấp dẫn như động thác Bờ, thác Mu, quần thể di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng
cảnh hang động chùa Tiên, bản Lác... Hoà Bình có nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình, được xây
dựng trên dòng sông Đà, là một trong các nhà máy thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á
và là biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô cũ (nay là Cộng hoà Liên bang Nga).
Hoà Bình còn có nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh nguyên liệu tập trung, được phát
triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím, vùng bưởi huyện Tân
Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc... Trên
địa bàn tỉnh có sáu thành phần dân tộc sinh sống, gồm: Mường, Thái, Kinh, Dao, Mông, Tày.
Các dân tộc vừa giữ gìn bản sắc văn hoá riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn
hoá các dân tộc khác trong cộng đồng.
Cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7 sẽ góp phần trang bị cho các em
những hiểu biết cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội,
môi trường của tỉnh Hoà Bình. Từ đó, góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương; ý
thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học trong nhà trường với những vấn đề đặt ra ở địa
phương; giúp các em hoà nhập với môi trường đang sinh sống, có trách nhiệm hơn trong việc
tìm hiểu, gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương, góp phần xây dựng
tỉnh Hoà Bình ngày càng giàu đẹp.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7 gồm 14 chủ đề, thuộc 7 lĩnh vực:
văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội, môi trường của tỉnh Hoà
Bình. Mỗi bài học được cấu trúc làm 4 phần: Mở đầu; Kiến thức mới; Luyện tập; Vận dụng.
Để học tốt Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 7, các em hãy đọc kĩ hướng
dẫn và hoàn thành các nhiệm vụ trong từng bài học.
Hi vọng rằng, mỗi bài học trong cuốn tài liệu này sẽ là những khám phá mới mẻ giúp các
em hiểu nhiều hơn, yêu quý, tự hào và có trách nhiệm hơn về quê hương Hoà Bình yêu dấu.
CÁC TÁC GIẢ
3
M Ụ C LỤ C
STT
Tên chủ đề
Trang
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1
Văn hoá chiêng trong đời sống dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình
7
2
Trang phục truyền thống của các dân tộc ở Hoà Bình
11
3
Ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình
17
4
5
6
Tình hình kinh tế, xã hội và phong trào đấu tranh chống chế độ
phong kiến ở Hoà Bình (X – XVI)
Nhân dân các dân tộc Hoà Bình tham gia phong trào đấu tranh
chống ngoại xâm và nội phản trong các thế kỉ (X – XVI)
Những thành tựu văn hoá tiêu biểu ở Hoà Bình trong các thế kỉ
(X – XVI)
24
30
35
ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP
7
Dân cư tỉnh Hoà Bình
40
9
Lao động, việc làm và chất lượng cuộc sống của dân cư Hoà Bình
52
Khái quát nền kinh tế tỉnh Hoà Bình
58
Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với các ngành nghề ở địa phương
64
10
CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG
12
Truyền thống đoàn kết các dân tộc tỉnh Hoà Bình
72
13
Bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ở Hoà Bình
81
Giải thích thuật ngữ
82
Nguồn tư liệu ảnh, bài
83
4
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Mục tiêu bài học:
Nhấn mạnh về yêu cầu cần đạt,
năng lực và phẩm chất, thái độ học
sinh cần đạt được sau khi học.
Mở đầu:
Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập
học sinh cần giải quyết; kết nối với
những điều học sinh đã biết, nêu
vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo
hứng thú đối với bài mới.
Kiến thức mới:
Thông qua các nội dung (kênh hình,
kênh chữ) và các hoạt động học
tập, học sinh được khai thác và tiếp
nhận kiến thức mới.
5
Luyện tập:
Là các câu hỏi, bài tập, thực hành
để củng cố kiến thức, rèn luyện các
kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.
Vận dụng:
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết các tình huống, vấn đề
trong thực tiễn.
6
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1. VĂN HOÁ CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG
DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được những nét cơ bản về chiêng của dân
tộc Mường.
► Nêu được vai trò của chiêng Mường trong đời sống
dân tộc Mường.
► Có hành động giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của
văn hoá chiêng trong đời sống dân tộc Mường.
Quan sát hình ảnh sau và cho biết mọi người đang chơi nhạc cụ gì? Nhạc cụ đó
thường được sử dụng vào những dịp nào?
Hình 1.1
7
1. Khái quát một số đặc điểm của chiêng Mường ở Hoà Bình
Chiêng là nhạc cụ xa xưa, phổ biến của người Mường gắn liền với thời đại đồ đồng thời
Vua Hùng dựng nước, khi hai dân tộc Việt – Mường chưa chia tách. Chiêng gắn bó chặt chẽ
với đời sống văn hoá, sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của người Việt cổ.
Về chính xác thời điểm người Việt cổ sáng tạo đúc nên chiêng chưa thể xác định được,
song hoạ tiết có trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ có những hình người đánh chiêng.
Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình theo tài liệu của Bảo tàng tỉnh tại khu mộ cổ Chăm Mát người
dân đã phát hiện một chiếc chiêng cổ được úp lên mặt một trống đồng. Đây là trống có niên
đại sớm từ khoảng thế kỉ (TK) II – TK V sau công nguyên. Riêng chiêng vì không trang trí
hoa văn nên rất khó xác định niên đại nhưng với kiểu dáng và mức độ thô sơ của nó thì có
thể nói đây là những chiếc chiêng sớm nhất hiện nay được biết đến ở tỉnh Hoà Bình.
Chiêng là nhạc cụ được làm bằng kim loại đồng, hình tròn, có núm, thường được người
Mường dùng trong các dịp lễ, tết. Chiêng khác với cồng – từ dùng để chỉ loại nhạc cụ hình
tròn, to bằng miệng thúng, không có núm, còn gọi là “Lệnh” dùng khi vua quan truyền lệnh.
Tuy nhiên, người dân vẫn gọi loại chiêng dùng trong lễ hội với tên chung là cồng chiêng.
Chiêng được người Mường sử dụng khá linh hoạt. Tuỳ theo từng công việc, từng nghi lễ có
thể sử dụng đơn chiếc, thành dàn nhỏ từ 2 – 3 chiếc, song chủ yếu được đồng bào sử dụng
theo dàn. Một dàn chiêng đầy đủ có 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong năm do 12
người cầm, tấu theo những bản nhạc, điệu thức nhất định.
Việc đánh, tấu chiêng cũng tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh sử dụng. Có thể phân làm
ba hoàn cảnh: trong đời thường, trong nghi lễ tín ngưỡng, tang ma và trong lễ hội, ngày tết,
ngày vui. Khi tấu từ 1 – 3 chiêng, người Mường gọi là đánh chiêng, nếu hoà tấu tập thể từ 4
chiêng trở lên được gọi là đánh bùa hoặc sắc bùa.
2. Vai trò của chiêng trong đời sống dân tộc Mường
Trong đời sống thường ngày, người Mường coi chiêng như vật thiêng, của quý trong nhà.
Ngoài việc sử dụng tạo ra âm thanh, họ coi đây là đồ có linh khí thiêng lành, xua đuổi tà ma
đem lại sự yên lành cho gia đình. Mặt khác chiêng còn là biểu tượng của sự giàu có, quyền
thế, có giá trị như thước đo vật chất về sự giàu sang của các gia đình, gia tộc xưa.
Trong đời sống hằng ngày, chiêng được người Mường sử dụng với chức năng thông
tin, báo hiệu. Họ cũng sử dụng tấu các bài sắc bùa trong các lễ hội dân gian, ngày tết,
ngày lễ...
8
Chiêng có vai trò quan trọng trong
đời sống văn hoá, tinh thần của
người Mường ở Hoà Bình. Những
giá trị tinh thần của văn hoá chiêng
đã và đang khẳng định sức sống
trong đời sống cộng đồng, cần
được bảo tồn và phát triển. Với giá
trị độc đáo và vai trò quan trọng
của chiêng Mường trong đời sống,
nghệ thuật chiêng Mường ở Hoà
Bình đã được công nhận là di sản
văn hoá phi vật thể của quốc gia
vào ngày 19/01/2016.
Hình 1.2. Chiêng Mường
(Theo Cồng chiêng trong đời sống người Mường
baohoabinh.com.vn)
– Tìm hiểu ngữ liệu, quan sát hình 1.2 và mô tả chiêng Mường ở Hoà Bình trên các
phương diện: hình dáng, chất liệu, cách sử dụng?
– Người Mường thường sử dụng chiêng trong những dịp nào? Kể một số hoạt động
sử dụng chiêng Mường mà em biết?
– Nêu vai trò của chiêng trong đời sống văn hoá dân tộc Mường Hoà Bình?
Thông tin,
báo hiệu
?
Vai trò
của chiêng
trong đời sống
dân tộc Mường ở
Hoà Bình
?
?
9
1. Chia sẻ những việc nên làm để giữ gìn và phát triển văn hoá chiêng của người
Mường ở Hoà Bình.
Tôi sẽ tìm hiểu
để biểu diễn được
chiêng Mường.
???
2. Đóng vai hướng dẫn viên giới thiệu về chiêng Mường ở Hoà Bình với khách
du lịch.
3. Có ý kiến cho rằng trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển của công nghệ
và các loại hình giải trí khác, nhiều người không còn thích các nhạc cụ truyền thống
trong đó có chiêng.
a. Em có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
b. Hãy viết một đoạn văn khoảng 5 – 7 câu thể hiện quan điểm của em.
10
2. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA
CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Mô tả được trang phục truyền thống của một số dân
tộc ở Hoà Bình.
► Trình bày được ý nghĩa của trang phục thuyền thống
trong đời sống của các dân tộc ở Hoà Bình.
► Có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị trang
phục truyền thống của các dân tộc ở Hoà Bình.
Em có thường mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình không? Đó là vào
những dịp nào?
1. Khái quát về trang phục truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có 6 dân tộc chính cùng chung sống lâu đời, gồm: Mường,
Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Nhìn chung, các dân tộc vừa có nét văn hoá, tín ngưỡng chung,
vừa có nét văn hoá truyền thống, tín ngưỡng riêng của từng dân tộc, độc đáo, phong phú, đa
dạng. Cùng với tiếng nói, trang phục là một di sản văn hoá truyền thống độc đáo, mang đặc
trưng rất dễ nhận biết của từng dân tộc, chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá trị lịch sử
của từng tộc người.
Mỗi dân tộc có tạo hình trang trí, sử dụng trang phục theo những đặc điểm văn hoá riêng.
Nét hoa văn, hoạ tiết, màu sắc của mỗi loại trang phục dân tộc có những nét độc đáo, thể
11
hiện bản sắc riêng, in dấu truyền thống văn hoá và phong tục của dân tộc đó. Tuy nhiên, thời
gian gần đây, trang phục truyền thống của một số dân tộc đang có dấu hiệu bị mai một dần.
Tại các địa phương, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số không còn mặc trang phục truyền
thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, mà chỉ mặc trong dịp lễ, Tết, lễ hội, đám hiếu,
hỷ… Không chỉ vậy, nhiều bạn trẻ còn e ngại và không biết mặc các bộ trang phục của dân
tộc mình đúng cách.
Để bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc trên địa bàn, tỉnh Hoà Bình đã
thực hiện nhiều giải pháp như tổ chức các cuộc trình diễn trang phục truyền thống, tuyên
truyền, quảng bá trên các phương tiên thông tin đại chúng, dạy kỹ năng nghề dệt thổ cẩm,
thêu hoa văn trên trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số… Những cách làm trên góp
phần quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, đáp ứng được
nguyện vọng chung của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Từ đó, đưa trang phục truyền thống
phổ biến hơn trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao lòng tự hào, ý thức
bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc.
– Nêu ý nghĩa của trang phục truyền thống trong đời sống các dân tộc
ở Hoà Bình?
– Những giải pháp nào được tỉnh Hoà Bình thực hiện để bảo tồn, phát
huy trang phục của các dân tộc thiểu số?
2. Tìm hiểu trang phục của một số dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
2.1. Trang phục của người Mường
a. Trang phục của nam giới
Nam giới người Mường thường mặc áo
cánh dài tay và áo dài. Áo cánh dài đến ngang
hông, thân trước xẻ thành hai vạt, đơm khuyết
và cài khuy ở hai nẹp áo. Cổ áo là cổ đứng,
hai lớp cao chừng 3cm, bên trong mỗi vai áo
thường lót một miếng vải hình bán nguyệt để
đứng áo. Gần sát gấu của hai vạt áo trước có
hai túi hình chữ nhật khá to đối xứng nhau.
Áo cánh không xẻ tà, tay áo dài đến mu bàn
tay, rộng vừa phải.
Áo dài thường được mặc kép, tức là mặc
lồng hai chiếc áo dài một lúc và thường buông
12
Hình 2.1. Trang phục nam giới Mường
dài đến ngang đầu gối, cài khuy lệch sang bên phải, hai bên xẻ tà tới ngang hông, cổ áo đứng
và cứng. Quần dài thường có màu trắng hay màu nâu nhằm tạo sự tương phản, hài hoà với áo
cánh hoặc áo dài. Ống và đũng quần khá rộng. Cạp quần rộng, có khi bằng một loại vải mỏng
được nối với thân quần.
Từ nhiều năm nay, trang phục truyền thống vẫn được người dân gìn giữ và thường được
mặc trong đám cưới, lễ tết hoặc liên hoan văn nghệ quần chúng.
b. Trang phục của nữ giới
Vẻ đẹp, nét độc đáo của trang phục người Mường tập trung ở trang phục nữ. Xưa nay,
phụ nữ Mường có hai loại áo: áo ngắn và áo dài.
Áo ngắn có thân ngắn, xẻ ngực, thường không có khuy. Cổ áo được khoét tròn, ống tay
áo bó sát cánh tay và dài quá cổ tay. Áo thường được khâu, may bằng loại vải bình thường
hoặc lụa, phần nhiều có màu trắng. Cũng có khi áo bằng vải màu sặc sỡ hoặc vải hoa bó
sát thân người.
Gần đây, chiếc áo ngắn được cải tiến, trang trí thêm túi, đường viền, thêu thùa chỉ màu
nhằm tạo điểm nhấn đẹp mắt. Áo dài chủ yếu mặc để tiếp khách hoặc vào ngày hội, lễ tết.
Thân áo dài quá đầu gối, nửa thân trên giống áo ngắn, nửa thân dưới buông thả rộng dần.
Trước kia, áo dài được dệt bằng vải sợi bông tự khâu, màu xanh sẫm hoặc đen, riêng áo dài
của các bà mế cao tuổi thường là màu trắng. Ngày nay, phụ nữ Mường may áo dài bằng các
chất liệu vải hiện đại như lụa, gấm, các loải vải sợi tổng hợp, chủ yếu để mặc trong ngày
tết hay lễ hội cổ truyền.
Váy của phụ nữ Mường gồm hai phần chính: cạp váy và thân váy. Vẻ đẹp độc đáo
mà trang nhã của váy Mường tập trung ở
cạp váy, được dệt, thêu với sự phối kết màu
sắc và hình hoạ rất công phu, tỉ mỉ. Cạp váy
Mường cổ truyền gồm ba dải thổ cẩm có hoa
văn khác nhau từ dưới lên. Phần thân váy
bằng vải sợi bông tự dệt để mặc hàng ngày
hoặc bằng lụa để mặc trong ngày lễ tết. Màu
thân váy chủ yếu là màu đen hoặc xanh tím.
Bên trong gấu váy lót vải đỏ hoặc xanh lá
chuối. Váy hình ống, ôm sát người từ eo lưng
xuống gần gót chân. Ngoài áo và váy, trang
phục phụ nữ Mường còn có các phụ kiện đi
kèm như khăn đội đầu, yếm, và bộ xà tích.
Hình 2.2. Trang phục nữ giới Mường
13
2.2. Trang phục của người Thái
a. Trang phục của nam giới
Áo của nam giới dân tộc Thái gồm áo
ngắn và áo dài. Áo ngắn dài tay mặc hằng
ngày bằng vải sợi bông thô tự dệt, nhuộm
màu chàm hay đen, gồm hai thân trước và
hai thân sau ghép lại với hai cánh tay. Áo xẻ
ngực, vạt áo có thùa khuyết và đính 4 – 5 nút
vải. Cổ áo tròn, đứng và cao 2cm. Tay áo dài
đến cổ tay và rộng vừa phải thuận tiện trong
sinh hoạt. Áo thường có ba túi: hai túi to hình
chữ nhật ở sát gấu hai vạt trước, một túi nhỏ
hình chữ nhật bên ngực trái. Áo dài xẻ ngực,
bằng vải mộc nhuộm đen hay chàm, bằng lụa,
sa tanh sẫm màu, buông dài xuống quá đầu
gối, thường mặc khi đi lễ hội…
Hình 2.3. Trang phục nam giới Thái
Quần dài bằng vải sợi bông thô nhuộm chàm, đen hay nâu sẫm, ống đứng, rộng, dài đến
sát gót chân. Cạp quần rộng là một dải vải trắng mềm, rộng khoảng 15cm, được nối liền
vào thân quần.
b. Trang phục của nữ giới
Áo ngắn của phụ nữ Thái ở Mai Châu có
nhiều màu như xanh, đỏ, trắng, tím, khoét cổ
tròn có đường viền nhỏ, xẻ hai bên vai để khi
mặc, chui đầu cho dễ. Thân áo dài 25 – 30 cm,
tay áo bó sát cánh tay. Khi mặc, phụ nữ Thái bỏ
gấu áo vào trong cạp váy rồi dùng dải thắt lưng
thắt lại để áo không sổ ra.
Áo dài thường có màu chàm, màu đen,
buông dài xuống đầu gối, xẻ ngực nhưng
không có khuy cài, không xẻ tà, chỉ mặc vào
mùa rét, dùng dải thắt lưng bằng vải trắng
rộng khoảng 20cm thắt lại để khép kín hai
vạt áo, một đầu thắt lưng buông xuống bên
hông trái.
Hình 2.4. Trang phục nữ giới Thái
14
Váy của phụ nữ Thái ở Mai Châu, Đà Bắc cho đến nay về cơ bản không thay đổi về kiểu
dáng và màu sắc, mặc dù chất liệu đã phong phú hơn trước nhiều. Đó vẫn là kiểu váy hình
ống, phía trên bó sát hông, phía dưới rộng dần và buông dài đến sát gót, cạp váy để trơn, có
một dải thắt lưng ôm quanh vòng bụng.
Ngoài ra, trang phục của phụ nữ Thái còn có khăn đội đầu, đồ trang sức gồm nhẫn, khuyên
tai, vòng cổ, vòng tay bằng bạc.
Ngày nay, trang phục truyền thống vẫn được phụ nữ Thái nâng niu gìn giữ và mặc trong
những ngày lễ, tết cổ truyền của dân tộc.
– Trình bày đặc điểm về chất liệu, kiểu dáng, màu sắc trên trang phục
truyền thống nam giới và nữ giới của một số dân tộc ở Hoà Bình?
1. Trang phục trong các hình dưới đây của dân tộc nào?
Hình 2.5
Hình 2.6
15
Hình 2.7
3. Chia sẻ với bạn về trang phục truyền thống của dân tộc em.
Trang phục phụ nữ
dân tộc tôi thường có
hoạ tiết rất đẹp.
???
4. Ngày nay, một số bạn trẻ có xu hướng không thích mặc trang phục truyền thống
của dân tộc mình. Em suy nghĩ thế nào về vấn đề này?
5. Chọn một trong hai nhiệm vụ sau:
a. Vẽ tranh về trang phục truyền thống của một trong các dân tộc ở Hoà Bình.
b. Viết 1 đoạn ngắn (khoảng 5 – 7 câu) giới thiệu về trang phục truyền thống của dân
tộc em.
16
3. CA DAO, TỤC NGỮ CỦA CÁC DÂN TỘC
Ở HOÀ BÌNH
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được đặc điểm ca dao, tục ngữ của các dân tộc
ở Hoà Bình.
► Nêu được ý nghĩa của ca dao tục ngữ trong đời sống tinh
thần của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình.
► Đọc hiểu được một số câu ca dao, tục ngữ từ đó viết và
trình bày được một số vấn đề liên quan đến ca dao, tục
ngữ của một số dân tộc ở Hoà Bình.
► Sưu tầm được một số bài ca dao, tục ngữ của địa phương.
► Có thái độ trân trọng ca dao, tục ngữ trên quê hương mình.
Đọc một bài ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình mà em biết.
1. Một số đặc điểm của ca dao, tục ngữ các dân tộc ở Hoà Bình
Bên cạnh truyện dân gian, các dân tộc ở Hoà Bình có nguồn ca dao, tục ngữ khá phong
phú, đa dạng, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của con người nơi đây. Ca dao, tục
ngữ Hoà Bình chủ yếu do nhân dân lao động các dân tộc sáng tác nên. Họ đã bộc lộ cảm xúc
chân thành, nồng hậu trong những tác phẩm trữ tình dân gian giản dị, mộc mạc. Tìm hiểu
ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình, chúng ta bắt gặp tiếng nói tâm hồn của những
người lao động và trí tuệ dân gian của người xưa.
Những câu ca dao thể hiện niềm tự hào của con người trước vẻ đẹp của những danh lam
thắng cảnh, địa danh; sự phong phú của những sản vật địa phương; tình yêu lao động; tình
17
cảm của con người với gia đình, bạn bè và tình yêu đôi lứa.Về hình thức, ca dao của các
dân tộc ở Hoà Bình thường thể hiện dưới dạng thơ lục bát (có khi là lục bát biến thể), hay
sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, phóng đại, điệp từ…
Tục ngữ của các dân tộc ở Hoà Bình thường được xếp vào các chủ đề lớn như: tục ngữ
về địa danh, kinh nghiệm sản xuất, về đời sống sinh hoạt và gia đình.
Về hình thức, các câu tục ngữ đều có cấu trúc chặt chẽ, hàm súc, giàu hình ảnh. Đó là
những câu nói truyền lại một kinh nghiệm, hay đưa ra một lời nhận xét, khuyên nhủ của
các tác giả dân gian trong cuộc sống. Tục ngữ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, đậm sắc thái địa
phương, được người dân vận dụng vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.
– Nêu đặc điểm của ca dao, tục ngữ ở Hoà Bình theo gợi ý sau:
Đặc điểm
Ca dao
Nội dung
Hình thức
2. Tìm hiểu ca dao, tục ngữ của một số dân tộc ở Hoà Bình
2.1. Ca dao:
– Yêu nhau chẳng quản khó nghèo
Non cám cũng nuốt, già bèo cũng ăn.
– Đôi ta như cá thờn bơn
Nằm trên bãi cát bị cơn mưa rào
Đôi ta như cá dưới ao
Đi ra mắc lưới, chạy vào mắc câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra
Ước gì cột mọc cái hoa
Cho cua kéo hội cho ta lấy mình.
18
Tục ngữ
– Anh như bông quả trên cây
Thân em như cỏ may may dưới đường
Ước gì gió lớn nặng sương
Bông gạo xuống đường với cỏ may may.
(Ca dao dân tộc Mường)
2.2. Tục ngữ
– Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động.
a) Tục ngữ nói về các địa danh
và những đặc sản nổi tiếng
– Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lùi, tháng tới.
– Rau dớn mường Kha, ăn ngon hơn thịt gà xóm Mận.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
– Sấm mường Lạ, để dạ mà ăn.
– Sấm mường Ngay, quăng bừa cày lên gác.
b) Tục ngữ về kinh nghiệm sản
xuất, tri thức dân gian
– Mây kéo ngược chẳng có nước mà uống
Mây kéo xuống chẳng có ruộng mà cấy.
– Nắng tháng sáu được lúa
Nắng tháng chín mất mùa.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
c) Tục ngữ về xã hội và sinh
hoạt cộng đồng
– Một người đàn ông không dựng nổi nhà
Một người đàn bà không cắt nổi gianh.
– Thóc không phơi nắng sao khô vỏ
Người không đi đây đó sao khôn.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
d) Tục ngữ về gia đình
– Uốn cây uốn khi còn non
Uốn con uốn khi còn nhỏ.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
19
– Cây gẫy còn gốc
Thuyền vỡ còn mái chèo
Cha chết còn chú còn bác.
– Chim xa đàn chim kêu
Anh em xa nhau thì nhớ.
(Tục ngữ dân tộc Thái)
(Theo Ngữ văn địa phương tỉnh Hoà Bình, NXB Đại học Sư phạm, 2010)
– Các bài ca dao trên được viết theo thể thơ nào? và về chủ đề gì? Nêu cảm xúc của
nhân vật trữ tình trong các bài ca dao trên.
– Xác định cách gieo vần trong các câu tục ngữ trên. Việc gieo vần như vậy có tác
dụng gì?
– Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca dao thứ 2 và thứ 3. Nêu tác dụng
của biện pháp tu từ đó?
– Các câu tục ngữ ở trên bàn về những vấn đề gì trong cuộc sống? Em ấn tượng với
câu tục ngữ nào nhất? Vì sao?
– Nêu ý nghĩa của ca dao, tục ngữ trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc
ở tỉnh Hoà Bình.
Ca dao, tục ngữ
giúp đời sống tinh thần
của con người phong
phú hơn!
???
20
1. Em thích câu ca dao nào nhất trong các câu trên? Viết một đoạn văn khoảng 3
đến 5 câu thể hiện suy nghĩ của em.
2. Em có nhận xét gì về tri thức dân gian trong các câu tục ngữ đã tìm hiểu ở trên.
3. Chia sẻ những việc em nên làm để lưu truyền ca dao, tục ngữ của các dân tộc ở
Hoà Bình.
Tôi sẽ sưu tầm ca
dao, tục ngữ của các
dân tộc ở Hoà Bình.
???
4. Sưu tầm một số bài ca dao, tục ngữ ở Hoà Bình và sắp xếp theo chủ đề.
Tình cảm
gia đình
CHỦ ĐỀ
Tình yêu
đôi lứa
Xã hội và sinh
hoạt cộng đồng
CHỦ ĐỀ
CHỦ ĐỀ
21
Tìm hiểu thêm
CA DAO
– Yêu nhau không lấy được nhau
Đi qua cửa ngõ ruột đau quằn quằn
Về nhà cơm chẳng buồn ăn
Nước chẳng buồn uống băn khoăn trong lòng.
– Đi đâu mà vội mà vàng
Dừng chân đứng lại ăn nang ăn trầu
Ăn rồi xin nhớ đến nhau
Đừng như vôi bạc mà sầu lòng em.
TỤC NGỮ
– Sai quả dâu gia được mùa lúa ruộng
Sai quả cha được mùa lúa nương.
– Hiểu con trai xem bờ ruộng
Xét đàn bà nhìn gấu váy.
– Ruộng hoang quý trâu đực
Mường có giặc quý người gan dạ.
– Cây trong rừng không bằng ngọn
Nhiều người, nhiều ý khác nhau.
– Bản nào, bản không có gà vàng
Mường nào, mường không có người giỏi.
22
– Anh em cãi nhau ba ngày không mất
Vợ chồng cãi nhau một buổi thành người dưng.
– Sấm đầu năm thượng nguồn sông Đà được lúa
Sấm đầu năm cuối nguồn sông Mã mất mùa.
– Sao mờ trời đầy nắng
Sao tỏ trời sẽ mưa.
– Hay làm người khoẻ mạnh
Lười làm người ốm yếu.
– Chớ thấy người hèn mà lấn tới
Chớ thấy người cứng rắn mà bỏ qua.
– Lên núi này thấy thấp
Nhìn núi nọ thấy cao.
(Tục ngữ dân tộc Thái)
(Theo Ngữ văn địa phương tỉnh Hoà Bình, NXB Đại học Sư phạm, 2010)
23
4. TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI
VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Ở HOÀ BÌNH (X – XVI)
Học xong chủ đề này, em sẽ:
► Trình bày được một số nét nổi bật về tình hình chính
trị, kinh tế, xã hội ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối
thế kỉ XVI.
► Trình bày được những nét chính của các cuộc đấu
tranh chống lang đạo, phìa tạo của nhân dân các dân
tộc ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI.
► Có ý thức tìm hiểu và đánh giá về các sự kiện diễn ra
ở Hoà Bình từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI.
Từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thi hành
chính sách mở rộng đoàn kết dân tộc đến vùng Tây Bắc nói chung và Hoà Bình nói riêng.
Trong thời kì này ở Hoà Bình có nhiều chuyển biến về kinh tế, văn hoá, xã hội. Tuy
nhiên, đây cũng là thời kì chế độ Lang đạo ngày càng hà khắc, mâu thuẫn giữa tầng lớp
thống trị và bị trị trở nên gay gắt.
• Em hãy kể tên một số dấu hiệu thể hiện sự chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hoá ở tỉnh Hoà Bình từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI mà em biết?
• Theo em, những chuyển biến đó chứng tỏ điều gì ở Hoà Bình trong các thế kỉ
X – XVI?
24
1. Tình hình chính trị
Ở khu vực người Mường, chế độ nhà Lang theo cha truyền con nối, con trai trưởng nhành
chính gọi là Lang cun được cai quản toàn mường lớn (mường chiềng), con trai trưởng của
nhánh thứ gọi là Lang đạo cai quản mường nhỏ (xóm, trại), phụ thuộc vào Lang cun. Nhà
Lang đưa ra luật lệ vô cùng hà khắc, bắt dân trong mường, trong bản phải thi hành.
Khu vực người Thái, người Dao do Tạo mường, Tạo bản cai quản. Tầng lớp này được
hưởng nhiều quyền lợi về kinh tế và nắm quyền thống trị ở mường, bản.
THỔ TÙ, LANG CUN, ĐẠI THỦ
QUAN, TẠO CHÂU, ÁN NHA
PHỤ ĐẠO, LANG ĐẠO,
PHÌA, TẠO MƯỜNG
MO, CHANG
BINH DÕNG
QUAN, QUAN LANG,
CHÂU HOÁ
DÂN CHÚNG
Sơ đồ Bộ máy quản lí hành chính ở các khu vực trên vùng đất Hoà Bình
từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVI
– Nêu những nét nổi bật về tình hình chính trị ở Hoà Bình trong các
thế kỉ (X – XVI).
2. Tình hình kinh tế, xã hội
Ở Hoà Bình, trong các thế kỉ (X – XVI) là nghề nông vẫn giữ vai trò chủ đạo. Ruộng
đất nằm trong tay nhà Lang, nên gọi là ruộng Lang. Ruộng Lang được truyền từ đời này
25
sang đời khác như: ruộng của họ Đinh ở Mường Bi, ruộng của họ Quách ở mường Vang…
Một số nhà Lang cung cấp phương tiện, trâu bò, lương thực cho dân đến khai phá, hình
thành ruộng đồng và xóm làng mới.
Hình 4.1. Cọn nước của người Mường Hoà Bình
Các nghề thủ công như: dệt vải, làm nông cụ hoặc một số sản phẩm phục vụ sinh hoạt vẫn
tiếp tục được phát triển. Tuy nhiên, nền kinh tế Hoà Bình vẫn là một nền nông nghiệp kĩ thuật
lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp.
Ở khu vực người Mường, xã hội theo chế độ nhà Lang có hai tầng lớp: tầng lớp thống trị
gồm Lang cun và Lang đạo, tầng lớp này có nhiều ruộng, sống dựa vào bóc lột người dân
trong mường. Tầng lớp bị trị là người dân trong mường (gọi là mol Mường), cuộc sống của
họ lệ thuộc vào nhà Lang hết đời này sang đời khác. Ngoài ra, trong xã hội người Mường
thời phong kiến còn có tầng lớp đứa nương hay còn gọi là Noóc Troọi, đây là những nông
dân nghèo từ nơi khác đến mường. Tuy được tự do hơn, ít phụ thuộc và Lang cun hơn so với
dân trong mường, nhưng thân phận thấp kém, nên mọi hoạt động của tầng lớp này diễn ra
ngoài xã hội người Mường.
Ở Mai Châu và Đà Bắc, là khu vực thống trị của Phìa, Tạo người Thái thông quan luật
mường nhằm bảo vệ chế độ thống trị của quý tộc Thái. Người dân trong các mường phải làm
cuông, nhốc cho nhà Tạo.
26
Như vậy, mâu thuẫn trong xã hội người Mường và người Thái là mâu thuẫn giữa tầng lớp
thống trị và bị trị, song do luật mường, lệ làng, nên ít có những cuộc đấu tranh lớn giữa người
dân với tầng lớp thống trị.
– Nêu đặc điểm, tính chất của nền kinh tế Hoà Bình trong các thế kỉ
(X – XVI).
– Xã hội ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI) có những tầng lớp nào?
Hãy nêu đặc điểm của các tầng lớp đó.
3. Đấu tranh chống sự hà khắc của chế độ Lang đạo, Phìa Tạo
Lang cun được coi như chúa đất, toàn bộ rừng núi, ruộng đất trong mường đều thuộc về
chúa đất, nhưng trên thực tế Lang cun chỉ trực tiếp cai quản mường trung tâm. Còn Lang
đạo và những người thuộc dòng họ Lang là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng trực tiếp bóc lột
người dân trong mường.
Người dân trong mường phải phục dịch trong gia đình nhà Lang, làm xâu cho Lang cun,
làm nõ cho Lang đạo. Ậu là quản lí trực tiếp người làm xâu – nõ, toàn bộ thu hoạch thóc
lúa ở ruộng xâu thuộc về Lang cun, ruộng nõ thuộc về Lang đạo. Ngoài ra, người dân trong
mường còn phải đi phiên, làm nô bộc cho nhà Lang trong các lễ tiết, hiếu hỉ.
Mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu
tranh chống chế độ Lang đạo đã diễn ra bằng các hình thức phế bỏ Lang, đuổi ra khỏi làng,
đón Lang nơi khác tới… Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nhân dân Hạ Bì (Kim Bôi), cuộc đấu
tranh ở xóm Khậm (Lạc Sơn).
Ở Mai Châu và Đà Bắc, tầng lớp Phìa, Tạo có quyền lợi về đất đai và có uy quyền đối
với các tộc người ở địa phương họ sống. Dựa vào Luật mường của người Thái, áp bức bóc
lột và gây ra nhiều bất công đối với người dân bản mường. Một số cuộc đấu tranh có quy
mô nhỏ, lẻ mang tính tự phát của người dân chống lại chế độ tạo, nhưng không thể thay đổi
được thân phận của người dân.
Tuy những cuộc đấu tranh chống chế độ Lang đạo của người Mường và đấu tranh chống
chế độ Phìa, Tạo của người Thái ở Hoà Bình đều thất bại, nhưng nó đã thể hiện được truyền
thống đấu tranh chống áp bức, bóc lột của nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình.
– Em hãy nêu những nét chính về cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột
của người dân Hoà Bình trong các thế kỉ X – XVI.
27
1. Em hãy lập bảng thống kê những nét nổi bật về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI) theo mẫu sau:
Nội dung
Nét nổi bật
Kinh tế
Chính trị
Xã hội
2. Trình bày nguyên nhân, kết quả của các cuộc đấu tranh chống sự hà khắc của chế
độ phong kiến của nhân dân các dân tộc ở Hoà Bình trong các thế kỉ (X – XVI).
– Dưới chế độ phong kiến từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVI, người dân ở Hoà Bình bị
tầng lớp Lang đạo, Phìa, Tạo bóc lột như thế nào?
3. Em hãy đóng vai nhà nghiên cứu lịch sử nhỏ tuổi và giới thiệu với bạn bè về
một sự kiện lịch sử tiêu biểu về tổ chức bộ máy của nhà Lang hoặc Phìa, Tạo thời
phong kiến.
Tìm hiểu thêm
Điều ít biết về guồng nước của người Mường ở Hoà Bình
Guồng nước hay còn gọi là cọn nước, bánh xe nước vốn đã gắn với phương thức canh
tác của đồng bào Mường, đồng bào Thái ở Hoà Bình. Trong xã hội của người Mường, người
28
Thái xưa, chiếc guồng nước không chỉ thể hiện sự sáng tạo của cư dân trong việc dẫn nước
làm thuỷ lợi, mà nó còn thể hiện giá trị văn hoá truyền thống, mang tính đặc trưng của cộng
đồng các dân tộc nơi đây.
Chiếc guồng nước được chạy bằng sức đẩy của nước. Một bộ guồng thường có từ 3 đến 6
bánh xe, địa điểm đặt guồng nước phải tìm những con sông, con suối ăn khá sâu vào núi để
tránh lan toả thành khúc sông rộng và cũng không bao giờ được chọn nơi chảy xiết của lòng
sông chính.
Ở Hoà Bình, những địa điểm đặt guồng nước không nhiều, vả lại mỗi nơi đặt guồng chỉ
tưới được ...
 





