Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC
https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU
sơ lược lịch sử Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:57' 02-10-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:57' 02-10-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Tựa:
Nước Việt Nam:
PI-Chương 1:
PI-Chương 2
PI-Chương 3
PI-Chương 4
PII-Chương 1
PII-Chương 2
PII-Chương 3
PII-Chương 4
PII-Chương 5
PII-Chương 6
PIII-Chương 1
PIII-Chương 2
PIII-Chương 3
PIII-Chương 4
PIII-Chương 5
PIII-Chương 6
PIII-Chương 7
PIII-Chương 8
PIII-Chương 9
PIII-Chương 10
PIII-Chương 11
PIII-Chương 12
PIII-Chương 13
PIII-Chương 14
PIII-Chương 15
PIV-Chương 1
PIV-Chương 2
PIV-Chương 3
PIV-Chương 4
PIV-Chương 5
PIV-Chương 6
PIV-Chương 7
PIV-Chương 8
PIV-Chương 9
PIV-Chương 10
PIV-Chương 11
PIV-Chương 12
PV-Chương 1
PV-Chương 2
PV-Chương 3
PV-Chương 4
PV-Chương 5
PV-Chương 6
PV-Chương 7
PV-Chương 8
PV-Chương 9
PV-Chương 10
PV-Chương 11
PV-Chương 12
PV-Chương 13
PV-Chương 14
PV-Chương 15
PV-Chương 16
Tổng kết:
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Tựa:
Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công
việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc
ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người
ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một
nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ
đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước
được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của
người trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới
chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này.
Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước
mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng
học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái
nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng nên mà để lại cho
mình. Bởi những lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đã có
đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc lập, thì cũng
có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần,
vào quãng thế kỷ thứ XIII. Từ đó trở đi nhà nào lên làm
vua cũng trọng sự làm sử. Nhưng cái lối làm sử của ta
theo lối biên niên của Tàu. nghĩa là năm nào tháng nào
có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách.
Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy
mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên
can việc ấy với việc khác là thế nào.
Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc
chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không
được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra
trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà
vua, hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của
nhân dân trong nước. Vả, xưa nay ta vẫn chịu quyền
chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước
chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo
cái chủ nghĩa ấy mà chép sử, thành ra sử đời nào cũng
chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi. Bởi vậy xem
sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học
vấn là mấy.
Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không
mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm
cho người mình không có thể biết được sử nước mình.
Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học
sử Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn
chương gì cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện
nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người mình có
ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết
làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn,
chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học,
việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không
có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương
ngôn: "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!" Cái sự
học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong
nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra
làm sao được?
Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử ta thì
cũng có thể bởi đó mà biết được những sự đã qua ở
nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu được nhiều việc
quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay
vần ra làm sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ
Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở đi chắc rồi mỗi ngày
một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ Nho còn
nhiều, mà trong nước còn không có mấy người biết
được chuyện nước nhà, huống chi mai sau này chữ Nho
bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những việc quan
hệ đến lịch sử nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!
Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc
ngữ đã phổ thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng
nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ Việt
Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại,
đặt thành chương, thành mục rõ ràng, để ai ai cũng có
thể xem được sử, ai ai cũng có thể hiểu được chuyện,
khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn
trước.
Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời
đại: Thời đại thứ nhất là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ
Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. Trong thời đại ấy,
từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tàu trước đời nhà
Tần, phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền
hoặc cả. Những nhà chép sử đời trước cũng theo tục
truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà khảo
cứu cho đích xác. Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ
mà chép lại, rồi cũng phê bình một đôi câu để tỏ cho
độc giả biết rằng những chuyện ấy không nên cho là xác
thực.
Thời đại thứ nhì là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua
Vũ Đế nhà Hán lấy đất Nam Việt của nhà Triệu, cho đến
đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ Khúc và họ Ngô xướng lên
sự độc lập. Những công việc trong thời đại ấy, thì sử cũ
của nước ta chép rất là sơ lược lắm. Vì rằng trong thời
đại Bắc Thuộc, người mình chưa được tiến hóa, sự học
hành còn kém, sách vở không có, cho nên về sau những
nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê
cứu vào đâu được, chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi. Vả,
người Tàu lúc ấy vẫn cho mình là một xứ biên địa dã
man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên những
chuyện chép ở trong sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để
cũng chỉ chép những chuyện cai trị, chuyện giặc giã,
chứ các công việc khác thì không nói đến.
Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn
năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình
thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có 1 điều ta
nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh
của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát
được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn
phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu
ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày
nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy
gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ
thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải
mới có công hiệu vậy.
Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô,
nhà Đinh cho đến sơ-diệp nhà Hậu Lê. Nước mình từ
thời đại ấy về sau là một nước dộc lập, tuy đối với nước
Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là
không ai xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình.
Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới dấy lên; còn phải xây
đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc
võ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học
không được mở mang lắm. Về sau đến đời nhà Lý, nhà
Trần, công việc ở trong nước đã thành nền nếp, kẻ cừu
địch ở ngoài cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều
vua hiền tôi giỏi nối nhau mà lo việc nước, cho nên từ đó
trở đi việc chính trị, việc tôn giáo và việc học vấn mỗi
ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một nước
có thế lực, bắc có thể chống được với Tàu, nam có thể
mở rộng thêm bờ cõi. Nhà Lý và nhà Trần lại có công
gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ, khiến cho về sau đến
đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ quấy rối, người Tàu đã
toan đường kiêm tính, người mình biết đồng tâm hiệp
lực mà khôi phục lại giang sơn nhà. Kế đến nhà Lê,
trong khoảng một trăm năm về buổi đầu, nước mình
cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang
Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), thì sự
văn trị và võ công đã là rực rỡ lắm. Nhưng về sau gặp
những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát, kẻ
gian thần dấy loạn. Mối binh đao gây nên từ đó, người
trong nước đánh giết lẫn nhau, làm thành ra nam bắc
chia rẽ, vua chúa tranh quyền. Ấy thật là một cuộc biến
lớn ở trong nước vậy.
Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà
Mạc làm sự thoán đoạt cho đến nhà Tây Sơn. Trước thì
nam Lê, bắc Mạc, sau thì Nguyễn nam, Trịnh bắc, sự
cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, lòng ghen ghét càng
ngày càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương
thường chểnh mảng: nước đã có vua lại có chúa. Trong
Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn, công việc ở đâu,
chủ trương ở đấy. Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc
cũng có nhiều việc hay, mà việc khai khẩn trong Nam
thật là ích lợi. Nhưng cuộc thành bại ai đâu dám chắc,
cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát cả ngôi
vua cùng nghiệp chúa. Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng
không được 20 năm, thì bản triều nhà Nguyễn lại trung
hưng lên, mà đem giang sơn về một mối, lập thành cái
cảnh tượng nước Việt Nam ta ngày nay vậy.
Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế
Tổ bản triều cho đến cuộc Bảo Hộ bây giờ. Vua Thế Tổ
khởi đầu giao thiệp với nước Pháp Lan Tây để mượn thế
lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau vì những vua con
cháu Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên
Chúa và đóng cửa không cho ngoại quốc vào buôn bán.
Những đình thần thì nhiều người trí lự hẹp hòi, cứ
nghiễm nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi.
Đối với những nước ngoại dương, thì thường hay gây
nên sự bất hòa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực
để bênh vực quyền lợi của mình. Vì những chính sách
ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo Hộ.
Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà
soạn giả đã theo từng thời đại để đặt ra. Soạn giả đã cố
sức xem xét và góp nhặt những sự ghi chép ở các sách
chữ Nho và chữ Pháp, hoặc nhữNg chuyện rải rác ở các
dã sử, rồi đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn
ra bộ sách này, cốt để người đồng bang ta biết được
chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn
hoặc. Thời đại nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả
cứ bình tĩnh cố theo cho đúng sự thực. Thỉnh thoảng có
một đôi nơi soạn giả có đem ý kiến riêng của mình mà
bàn với độc giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà
Tây Sơn thì thiết tưởng rằng sử là của chung cả quốc
dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho
nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc và không
vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy.
Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử
Lược chỉ cốt ghi chép những chuyện trọng yếu để hãy
tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn quyển sách
mà xem cho tiện. Còn như việc làm thành ra bộ sử thật
là đích đáng, kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin
để dành cho những bậc tài danh sau này sẽ ra công mà
giúp cho nước ta về việc học sử. Bây giờ ta chưa có áo
lụa, ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có
thể làm cho ta đỡ rét. Nghĩa là ta hãy làm thế nào cho
những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết
một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn.
Ấy là cái mục đích của soạn giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái
mục đích ấy mà có thể tới được thì tưởng bộ sách này là
bộ sách có ích vậy.
Trần Trọng Kim
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Nước Việt Nam:
1. Quốc Hiệu
2. Vị Trí và Diện Tích
3. Địa Thế
4. Chủng Loại
5. Gốc Tích
6. Người Việt Nam
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
8. Lịch Sử Việt Nam
1. Quốc Hiệu.
Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258
trước Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương
Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến
nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam
thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây
lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng
Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật
Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao
Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ
Phủ.
Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị
Sứ Quân, lập nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại
Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt, đến đời vua
Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
Quốc.
Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc
(1802), lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường,
mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh Mệnh lại cải
làm Đại Nam.
Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng
ngày nay ta vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam,
nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục nước Tàu,
vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước
nhà.
2. Vị Trí và Diện Tích.
Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á, hẹp
bề ngang, dài bề dọc, hình cong như chữ S, trên phía
bắc và dưới phía nam phình rộng ra, khúc giữa miền
trung thì eo hẹp lại.
Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam
Hải); Tây giáp Ai Lao và Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu,
liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét
vuông chia ra như sau này:
Bắc Việt: 105.000 km2
Trung Việt: 150.000 km2
Nam Việt: 57.000 km2
3. Địa Thế.
Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung Việt
và Nam Việt. Đất Bắc Việt có sông Hồng Hà (tức là sông
Nhị Hà) và sông Thái Bình. Mạn trên gọi là Thượng Du
lắm rừng nhiều núi, ít người ở. Mạn dưới gọi là Trung
Châu, đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở
trong có núi Trường Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần
đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở được mạn gần bể mà
thôi.
Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông
(tức là sông Cửu Long), lại có sông Đồng Nai chảy ở
mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều, dân gian trù phú
và dễ làm ăn hơn cả
4. Chủng Loại.
Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền
thương du Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ),
Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung Việt thì có
dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì
có dân Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân
ấy ở trong ba nơi tất cả đến non một triệu người. Còn thì
dân tộc Việt Nam ở hết cả.
Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như
sau này:
Bắc Việt: 8.700.000 người
Trung Việt: 5.650.000 người
Nam Việt: 4.616.000 người
Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người.
{Số này là theo sách Địa Lý của ông H. Russier (1939)
chép lại chứ không chắc đã đúng số nhất định của người
mình.}
5. Gốc tích.
Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì
người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng
xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống
phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn
người Thái thì theo sông Mê Kông xuống, lập ra nước
Tiêm La (tức là Thái Lan) và các nước Lào.
Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói
rằng nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu
ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu bây giờ) ở phía
Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ
lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần
xuống phía nam, người Tam Miêu phải lẩn núp trong
rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ
cũng chưa có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết
rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao
lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem
các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là
một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.
Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng,
về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm,
lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh,
chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi,
mới thành ra người Việt Nam ngày nay.
6. Người Việt Nam.
Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà
người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì
nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu,
ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà
cũ.
Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn
con người, chứ không to béo. Mặt thì xương xương,
trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì đen và
hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt,
môi hơi dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa
mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi
đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.
Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn
khăn vành rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật,
ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía bắc Trung
Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn
ở nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và
Nam Việt thì đàn bà hay mặc quần cả, và búi tóc, chứ
không đội khăn bao giờ.
Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả
các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh
mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng
dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý
sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có
tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác
nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn
sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can
đảm, biết giữ kỹ luật.
Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn,
hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu
danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ,
sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo
nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng
nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.
Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân,
khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia
đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường
giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một
phong tục, nói một thứ tiếng, {Tuy rằng mỗi nơi có một
ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ khác
nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.}
cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một
dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.
Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra
nhiều, mà ở phía bắc thì đã có nước Tàu cường thịnh,
phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện,
cho nên mới theo bờ bể lần xuống phía nam, đánh Lâm
Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ
cõi bây giờ.
8. Lịch Sử Việt Nam.
Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể
hàng mấy nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần,
chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế mà sau lại lập được
cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của
giống mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình
không đến nỗi kém hèn cho lắm. Tuy rằng mình chưa
làm được việc gì cho vẽ vang bằng người, nhưng mình
còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một
nước cường thịnh.
Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến
cố của nước mình đã trải qua, và kể những công việc
của người mình làm từ đời nọ qua đời kia, để cho mọi
người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam
sử ra 5 phần để cho tiện sự kê cứu.
Phần I: Thượng Cổ thời đại.
Phần II: Bắc Thuộc thời đại.
Phần III: Tự Chủ thời đại.
Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.
Phần V: Cận Kim thời đại.
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Phần I : Thượng Cổ Thời Đại
PI-Chương 1:
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
Phù Đổng Thiên Vương
Sơn Tinh Thủy Tinh
1. Họ Hồng Bàng.
Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời
của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi
Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng
tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế
Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua
phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương
nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích
Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động
Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm
Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông
giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào
quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con
gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối
ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ,
đẻ một lần được một trăm người con trai3. Lạc Long
Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân, nhà
ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không
được; nay được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên
núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải". Gốc tích
truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích
Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày
nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và
tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là
một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác
được.
2. Nước Văn Lang.
Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang
làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh
Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn ( ? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào
địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn
gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua
gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các
quan nhỏ gọi là Bồ Chính 4. Quyền chính trị thì cứ cha
truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão
(1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu,
có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ
đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người
làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công
Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về
nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là
đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý
mão (158 trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng
Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm
nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây lịch)
thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông
vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng
cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu
được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng
Bàng không chắc là truyện xác thực.
3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước
Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị giống thuồng
luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để
những giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa5.
Sử lại chép rằng thuyền của ta ở đằng mũi thường hay
làm hai con mắt, cũng có ý để cho các thứ thủy quái ở
sông ở bể không quấy nhiễu đến.
Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay
người ta thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên
Vương và truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
4.Truyện Phù Đổng Thiên Vương:
Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc
Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ
đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp
nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là
huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh
giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi
vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái
roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy
vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng,
rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn
thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng
Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương6.
Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không
có lẽ tin làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có
người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ
ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở
làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám
tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh
Gióng.
5.Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh:
Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người
con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh
và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn
rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho
người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được
Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh
Sơn Tây).
Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ
Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi
dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở trên núi không
việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi
cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh
xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó Sơn
Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một
lần, dân gian thật là cực khổ.
Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng
6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy
xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả ruộng đất.
Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng mà đặt
ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối
thập tam thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới
có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ
Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu
Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên,
làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà
Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép từ họ Hồng Bàng
đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về
thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời
thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy
khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng
nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại,
cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ
quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban
đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở
chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình.
Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là
con tiên cháu rồng, v.v....
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử
nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là
truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi vậy.
----------------------------{3 Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng
nở ra một trăm con. }
{4 Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình,
chắc là bởi Bồ Chính mà ra. }
{5 Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ mình
mãi đến đời vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ. }
{6 Có người chép truyện này nói rằng: Giặc Ân là
quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như
thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở
vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ,
Sơn Tây và Thiểm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất
ở bên này sông Trường Giang là man di hết cả. Từ
Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu
đường đất. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm
vua nữa, thì chắc cũng chưa có kỷ cương gì, có lẽ cũng
giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà
thôi, như thế thì đã có giao thiệp gì với nhà Ân mà đánh
nhau. Vả lại, sử Tàu cũng không có chỗ nào chép đến
truyện ấy. Vậy thì lẽ gì mà nói rằng giặc Ân là người nhà
Ân bên Tàu. }
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Phần I : Thượng Cổ Thời Đại
PI-Chương 2
1. Gốc Tích Nhà Thục
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước
1. Gốc Tích Nhà Thục.
Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước
Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy
giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị
rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi
Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi
quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước
Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không
thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi
lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang
đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và
có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân
nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy ? Sử
cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục
tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào
độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ không phải là Thục
bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng bàn như thế.
2. Nước Âu Lạc.
Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng
Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng
lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù
lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có
binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu
chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán,
biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn
Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự
tử.
Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp
yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu
là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện
Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ
(255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành.
Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên
mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ
Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên
này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất
thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch).
Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy
đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và
Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần
phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất
Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông),
Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người
Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ
Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy
thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa
thế nổi lên giết được Đồ Thư.
4. Nhà Thục Mất Nước.
Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có
nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm
Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập
một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa
thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao
giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan
úy quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời
vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy
nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt7.
Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa
Thành, có những yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không
được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn, có
thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu
quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại
cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm cái
lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một
phát, giặc chết hàng vạn người.
Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh...
Tựa:
Nước Việt Nam:
PI-Chương 1:
PI-Chương 2
PI-Chương 3
PI-Chương 4
PII-Chương 1
PII-Chương 2
PII-Chương 3
PII-Chương 4
PII-Chương 5
PII-Chương 6
PIII-Chương 1
PIII-Chương 2
PIII-Chương 3
PIII-Chương 4
PIII-Chương 5
PIII-Chương 6
PIII-Chương 7
PIII-Chương 8
PIII-Chương 9
PIII-Chương 10
PIII-Chương 11
PIII-Chương 12
PIII-Chương 13
PIII-Chương 14
PIII-Chương 15
PIV-Chương 1
PIV-Chương 2
PIV-Chương 3
PIV-Chương 4
PIV-Chương 5
PIV-Chương 6
PIV-Chương 7
PIV-Chương 8
PIV-Chương 9
PIV-Chương 10
PIV-Chương 11
PIV-Chương 12
PV-Chương 1
PV-Chương 2
PV-Chương 3
PV-Chương 4
PV-Chương 5
PV-Chương 6
PV-Chương 7
PV-Chương 8
PV-Chương 9
PV-Chương 10
PV-Chương 11
PV-Chương 12
PV-Chương 13
PV-Chương 14
PV-Chương 15
PV-Chương 16
Tổng kết:
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Tựa:
Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công
việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc
ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người
ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một
nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ
đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước
được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của
người trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới
chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này.
Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước
mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng
học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái
nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng nên mà để lại cho
mình. Bởi những lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đã có
đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc lập, thì cũng
có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần,
vào quãng thế kỷ thứ XIII. Từ đó trở đi nhà nào lên làm
vua cũng trọng sự làm sử. Nhưng cái lối làm sử của ta
theo lối biên niên của Tàu. nghĩa là năm nào tháng nào
có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách.
Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy
mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên
can việc ấy với việc khác là thế nào.
Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc
chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không
được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra
trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà
vua, hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của
nhân dân trong nước. Vả, xưa nay ta vẫn chịu quyền
chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước
chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo
cái chủ nghĩa ấy mà chép sử, thành ra sử đời nào cũng
chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi. Bởi vậy xem
sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học
vấn là mấy.
Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không
mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm
cho người mình không có thể biết được sử nước mình.
Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học
sử Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn
chương gì cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện
nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người mình có
ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết
làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn,
chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học,
việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không
có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương
ngôn: "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!" Cái sự
học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong
nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra
làm sao được?
Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử ta thì
cũng có thể bởi đó mà biết được những sự đã qua ở
nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu được nhiều việc
quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay
vần ra làm sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ
Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở đi chắc rồi mỗi ngày
một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ Nho còn
nhiều, mà trong nước còn không có mấy người biết
được chuyện nước nhà, huống chi mai sau này chữ Nho
bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những việc quan
hệ đến lịch sử nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!
Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc
ngữ đã phổ thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng
nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ Việt
Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại,
đặt thành chương, thành mục rõ ràng, để ai ai cũng có
thể xem được sử, ai ai cũng có thể hiểu được chuyện,
khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn
trước.
Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời
đại: Thời đại thứ nhất là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ
Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. Trong thời đại ấy,
từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tàu trước đời nhà
Tần, phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền
hoặc cả. Những nhà chép sử đời trước cũng theo tục
truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà khảo
cứu cho đích xác. Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ
mà chép lại, rồi cũng phê bình một đôi câu để tỏ cho
độc giả biết rằng những chuyện ấy không nên cho là xác
thực.
Thời đại thứ nhì là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua
Vũ Đế nhà Hán lấy đất Nam Việt của nhà Triệu, cho đến
đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ Khúc và họ Ngô xướng lên
sự độc lập. Những công việc trong thời đại ấy, thì sử cũ
của nước ta chép rất là sơ lược lắm. Vì rằng trong thời
đại Bắc Thuộc, người mình chưa được tiến hóa, sự học
hành còn kém, sách vở không có, cho nên về sau những
nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê
cứu vào đâu được, chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi. Vả,
người Tàu lúc ấy vẫn cho mình là một xứ biên địa dã
man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên những
chuyện chép ở trong sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để
cũng chỉ chép những chuyện cai trị, chuyện giặc giã,
chứ các công việc khác thì không nói đến.
Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn
năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình
thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có 1 điều ta
nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh
của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát
được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn
phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu
ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày
nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy
gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ
thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải
mới có công hiệu vậy.
Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô,
nhà Đinh cho đến sơ-diệp nhà Hậu Lê. Nước mình từ
thời đại ấy về sau là một nước dộc lập, tuy đối với nước
Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là
không ai xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình.
Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới dấy lên; còn phải xây
đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc
võ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học
không được mở mang lắm. Về sau đến đời nhà Lý, nhà
Trần, công việc ở trong nước đã thành nền nếp, kẻ cừu
địch ở ngoài cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều
vua hiền tôi giỏi nối nhau mà lo việc nước, cho nên từ đó
trở đi việc chính trị, việc tôn giáo và việc học vấn mỗi
ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một nước
có thế lực, bắc có thể chống được với Tàu, nam có thể
mở rộng thêm bờ cõi. Nhà Lý và nhà Trần lại có công
gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ, khiến cho về sau đến
đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ quấy rối, người Tàu đã
toan đường kiêm tính, người mình biết đồng tâm hiệp
lực mà khôi phục lại giang sơn nhà. Kế đến nhà Lê,
trong khoảng một trăm năm về buổi đầu, nước mình
cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang
Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), thì sự
văn trị và võ công đã là rực rỡ lắm. Nhưng về sau gặp
những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát, kẻ
gian thần dấy loạn. Mối binh đao gây nên từ đó, người
trong nước đánh giết lẫn nhau, làm thành ra nam bắc
chia rẽ, vua chúa tranh quyền. Ấy thật là một cuộc biến
lớn ở trong nước vậy.
Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà
Mạc làm sự thoán đoạt cho đến nhà Tây Sơn. Trước thì
nam Lê, bắc Mạc, sau thì Nguyễn nam, Trịnh bắc, sự
cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, lòng ghen ghét càng
ngày càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương
thường chểnh mảng: nước đã có vua lại có chúa. Trong
Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn, công việc ở đâu,
chủ trương ở đấy. Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc
cũng có nhiều việc hay, mà việc khai khẩn trong Nam
thật là ích lợi. Nhưng cuộc thành bại ai đâu dám chắc,
cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát cả ngôi
vua cùng nghiệp chúa. Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng
không được 20 năm, thì bản triều nhà Nguyễn lại trung
hưng lên, mà đem giang sơn về một mối, lập thành cái
cảnh tượng nước Việt Nam ta ngày nay vậy.
Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế
Tổ bản triều cho đến cuộc Bảo Hộ bây giờ. Vua Thế Tổ
khởi đầu giao thiệp với nước Pháp Lan Tây để mượn thế
lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau vì những vua con
cháu Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên
Chúa và đóng cửa không cho ngoại quốc vào buôn bán.
Những đình thần thì nhiều người trí lự hẹp hòi, cứ
nghiễm nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi.
Đối với những nước ngoại dương, thì thường hay gây
nên sự bất hòa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực
để bênh vực quyền lợi của mình. Vì những chính sách
ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo Hộ.
Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà
soạn giả đã theo từng thời đại để đặt ra. Soạn giả đã cố
sức xem xét và góp nhặt những sự ghi chép ở các sách
chữ Nho và chữ Pháp, hoặc nhữNg chuyện rải rác ở các
dã sử, rồi đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn
ra bộ sách này, cốt để người đồng bang ta biết được
chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn
hoặc. Thời đại nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả
cứ bình tĩnh cố theo cho đúng sự thực. Thỉnh thoảng có
một đôi nơi soạn giả có đem ý kiến riêng của mình mà
bàn với độc giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà
Tây Sơn thì thiết tưởng rằng sử là của chung cả quốc
dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho
nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc và không
vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy.
Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử
Lược chỉ cốt ghi chép những chuyện trọng yếu để hãy
tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn quyển sách
mà xem cho tiện. Còn như việc làm thành ra bộ sử thật
là đích đáng, kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin
để dành cho những bậc tài danh sau này sẽ ra công mà
giúp cho nước ta về việc học sử. Bây giờ ta chưa có áo
lụa, ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có
thể làm cho ta đỡ rét. Nghĩa là ta hãy làm thế nào cho
những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết
một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn.
Ấy là cái mục đích của soạn giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái
mục đích ấy mà có thể tới được thì tưởng bộ sách này là
bộ sách có ích vậy.
Trần Trọng Kim
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Nước Việt Nam:
1. Quốc Hiệu
2. Vị Trí và Diện Tích
3. Địa Thế
4. Chủng Loại
5. Gốc Tích
6. Người Việt Nam
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
8. Lịch Sử Việt Nam
1. Quốc Hiệu.
Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258
trước Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương
Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến
nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam
thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây
lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng
Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật
Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao
Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ
Phủ.
Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị
Sứ Quân, lập nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại
Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt, đến đời vua
Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
Quốc.
Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc
(1802), lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường,
mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh Mệnh lại cải
làm Đại Nam.
Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng
ngày nay ta vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam,
nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục nước Tàu,
vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước
nhà.
2. Vị Trí và Diện Tích.
Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á, hẹp
bề ngang, dài bề dọc, hình cong như chữ S, trên phía
bắc và dưới phía nam phình rộng ra, khúc giữa miền
trung thì eo hẹp lại.
Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam
Hải); Tây giáp Ai Lao và Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu,
liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét
vuông chia ra như sau này:
Bắc Việt: 105.000 km2
Trung Việt: 150.000 km2
Nam Việt: 57.000 km2
3. Địa Thế.
Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung Việt
và Nam Việt. Đất Bắc Việt có sông Hồng Hà (tức là sông
Nhị Hà) và sông Thái Bình. Mạn trên gọi là Thượng Du
lắm rừng nhiều núi, ít người ở. Mạn dưới gọi là Trung
Châu, đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở
trong có núi Trường Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần
đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở được mạn gần bể mà
thôi.
Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông
(tức là sông Cửu Long), lại có sông Đồng Nai chảy ở
mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều, dân gian trù phú
và dễ làm ăn hơn cả
4. Chủng Loại.
Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền
thương du Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ),
Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung Việt thì có
dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì
có dân Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân
ấy ở trong ba nơi tất cả đến non một triệu người. Còn thì
dân tộc Việt Nam ở hết cả.
Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như
sau này:
Bắc Việt: 8.700.000 người
Trung Việt: 5.650.000 người
Nam Việt: 4.616.000 người
Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người.
{Số này là theo sách Địa Lý của ông H. Russier (1939)
chép lại chứ không chắc đã đúng số nhất định của người
mình.}
5. Gốc tích.
Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì
người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng
xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống
phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn
người Thái thì theo sông Mê Kông xuống, lập ra nước
Tiêm La (tức là Thái Lan) và các nước Lào.
Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói
rằng nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu
ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu bây giờ) ở phía
Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ
lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần
xuống phía nam, người Tam Miêu phải lẩn núp trong
rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ
cũng chưa có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết
rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao
lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem
các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là
một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.
Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng,
về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm,
lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh,
chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi,
mới thành ra người Việt Nam ngày nay.
6. Người Việt Nam.
Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà
người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì
nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu,
ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà
cũ.
Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn
con người, chứ không to béo. Mặt thì xương xương,
trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì đen và
hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt,
môi hơi dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa
mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi
đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.
Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn
khăn vành rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật,
ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía bắc Trung
Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn
ở nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và
Nam Việt thì đàn bà hay mặc quần cả, và búi tóc, chứ
không đội khăn bao giờ.
Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả
các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh
mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng
dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý
sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có
tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác
nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn
sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can
đảm, biết giữ kỹ luật.
Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn,
hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu
danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ,
sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo
nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng
nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.
Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân,
khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia
đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường
giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một
phong tục, nói một thứ tiếng, {Tuy rằng mỗi nơi có một
ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ khác
nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.}
cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một
dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.
7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.
Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra
nhiều, mà ở phía bắc thì đã có nước Tàu cường thịnh,
phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện,
cho nên mới theo bờ bể lần xuống phía nam, đánh Lâm
Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ
cõi bây giờ.
8. Lịch Sử Việt Nam.
Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể
hàng mấy nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần,
chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế mà sau lại lập được
cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của
giống mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình
không đến nỗi kém hèn cho lắm. Tuy rằng mình chưa
làm được việc gì cho vẽ vang bằng người, nhưng mình
còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một
nước cường thịnh.
Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến
cố của nước mình đã trải qua, và kể những công việc
của người mình làm từ đời nọ qua đời kia, để cho mọi
người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam
sử ra 5 phần để cho tiện sự kê cứu.
Phần I: Thượng Cổ thời đại.
Phần II: Bắc Thuộc thời đại.
Phần III: Tự Chủ thời đại.
Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.
Phần V: Cận Kim thời đại.
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Phần I : Thượng Cổ Thời Đại
PI-Chương 1:
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
Phù Đổng Thiên Vương
Sơn Tinh Thủy Tinh
1. Họ Hồng Bàng.
Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời
của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi
Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng
tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế
Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua
phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương
nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích
Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động
Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm
Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông
giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào
quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con
gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối
ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ,
đẻ một lần được một trăm người con trai3. Lạc Long
Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân, nhà
ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không
được; nay được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên
núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải". Gốc tích
truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích
Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày
nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và
tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là
một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác
được.
2. Nước Văn Lang.
Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang
làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh
Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn ( ? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào
địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn
gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua
gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các
quan nhỏ gọi là Bồ Chính 4. Quyền chính trị thì cứ cha
truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão
(1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu,
có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ
đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người
làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công
Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về
nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là
đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý
mão (158 trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng
Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm
nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây lịch)
thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông
vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng
cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu
được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng
Bàng không chắc là truyện xác thực.
3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước
Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị giống thuồng
luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để
những giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa5.
Sử lại chép rằng thuyền của ta ở đằng mũi thường hay
làm hai con mắt, cũng có ý để cho các thứ thủy quái ở
sông ở bể không quấy nhiễu đến.
Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay
người ta thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên
Vương và truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
4.Truyện Phù Đổng Thiên Vương:
Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc
Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ
đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp
nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là
huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh
giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi
vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái
roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy
vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng,
rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn
thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng
Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương6.
Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không
có lẽ tin làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có
người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ
ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở
làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám
tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh
Gióng.
5.Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh:
Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người
con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh
và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn
rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho
người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được
Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh
Sơn Tây).
Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ
Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi
dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở trên núi không
việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi
cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh
xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó Sơn
Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một
lần, dân gian thật là cực khổ.
Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng
6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy
xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả ruộng đất.
Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng mà đặt
ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối
thập tam thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới
có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ
Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu
Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên,
làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà
Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép từ họ Hồng Bàng
đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về
thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời
thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy
khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng
nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại,
cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ
quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban
đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở
chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình.
Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là
con tiên cháu rồng, v.v....
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử
nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là
truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi vậy.
----------------------------{3 Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng
nở ra một trăm con. }
{4 Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình,
chắc là bởi Bồ Chính mà ra. }
{5 Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ mình
mãi đến đời vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ. }
{6 Có người chép truyện này nói rằng: Giặc Ân là
quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như
thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở
vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ,
Sơn Tây và Thiểm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất
ở bên này sông Trường Giang là man di hết cả. Từ
Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu
đường đất. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm
vua nữa, thì chắc cũng chưa có kỷ cương gì, có lẽ cũng
giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà
thôi, như thế thì đã có giao thiệp gì với nhà Ân mà đánh
nhau. Vả lại, sử Tàu cũng không có chỗ nào chép đến
truyện ấy. Vậy thì lẽ gì mà nói rằng giặc Ân là người nhà
Ân bên Tàu. }
VIỆT NAM SỬ LƯỢC
Trần Trọng Kim
www.dtv-ebook.com
Phần I : Thượng Cổ Thời Đại
PI-Chương 2
1. Gốc Tích Nhà Thục
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước
1. Gốc Tích Nhà Thục.
Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước
Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy
giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị
rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi
Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi
quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước
Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không
thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi
lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang
đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và
có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân
nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy ? Sử
cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục
tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào
độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ không phải là Thục
bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng bàn như thế.
2. Nước Âu Lạc.
Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng
Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng
lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù
lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có
binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu
chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán,
biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn
Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự
tử.
Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp
yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu
là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện
Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ
(255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành.
Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên
mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ
Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên
này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất
thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch).
Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy
đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và
Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần
phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất
Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông),
Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người
Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ
Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy
thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa
thế nổi lên giết được Đồ Thư.
4. Nhà Thục Mất Nước.
Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có
nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm
Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập
một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa
thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao
giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan
úy quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời
vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy
nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt7.
Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa
Thành, có những yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không
được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn, có
thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu
quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại
cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm cái
lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một
phát, giặc chết hàng vạn người.
Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh...
 





