Bản tin

MỪNG ĐẢNG – MỪNG XUÂN: GÌN GIỮ TRUYỀN THỐNG, LAN TỎA NẾP SỐNG VĂN MINH Hòa trong không khí rộn ràng chào đón mùa xuân mới, toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh và nhân dân hân hoan Mừng Đảng quang vinh – Mừng Xuân ấm áp. Mùa xuân không chỉ mang đến niềm vui, hy vọng mà còn là dịp để mỗi người thêm tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước. Xuân về là lúc những giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy: sum họp gia đình, tri ân tổ tiên, thăm hỏi người thân, chia sẻ yêu thương với cộng đồng. Những phong tục tốt đẹp ấy góp phần tạo nên bản sắc riêng của quê hương, nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước trong mỗi người dân. Bên cạnh đó, việc thực hiện nếp sống văn minh trong ngày Tết là trách nhiệm chung của toàn xã hội: đón Tết an toàn, tiết kiệm; giữ gìn vệ sinh môi trường; chấp hành luật an toàn giao thông; không mê tín dị đoan, không sử dụng các tệ nạn xã hội. Mỗi hành động đẹp, mỗi cử chỉ văn minh chính là cách thiết thực để mùa xuân thêm trọn vẹn và ý nghĩa. Mừng Xuân mới, mừng Đảng quang vinh, tin tưởng rằng với truyền thống tốt đẹp và tinh thần trách nhiệm, quê hương chúng ta sẽ tiếp tục phát triển, đón một năm mới bình an – hạnh phúc – thành công.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_20251008_152449.png 492676819_122240850416200940_6424338340012957322_n.jpg 492880870_122240852030200940_2654419725147257170_n.jpg 492676819_122240850416200940_6424338340012957322_n.jpg 493849653_122240848226200940_1615818080035021270_n.jpg 9.png 11.png 4.png Co_Duong.png 5.png 6.png Thu_vien_truong_gioi_thieu_sach_thang_3.flv Db0cc6ff5cd3e08db9c2.jpg 464245864_122190946124200940_3974562673935305791_n.jpg 647666b7fc0a47541e1b.jpg 467955265_122198149496200940_7081064087547739701_n.jpg 466413710_122195513480200940_3479899033474218114_n.jpg 467402185_122197104554200940_6606976432164048389_n.jpg 467732281_122197104266200940_4215561827777892757_n.jpg 726fccbd872a2174783b.jpg

    Thư viện PTDTNTTHCS B Đà Băc

    https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU&t=11s

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH PHÚ THỌ

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG PT-DTNT THCS&THPT B ĐÀ BẮC - TỈNH Phú Thọ

    ĐC: Xóm Chiềng Cang, Xã Đức Nhàn, tỉnh, Phú Thọ. CBTV Xa Thị Tươi SĐT 0985157520

    MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC

    https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU

    sơ lược lịch sử Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:57' 02-10-2024
    Dung lượng: 2.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Tựa:
    Nước Việt Nam:
    PI-Chương 1:
    PI-Chương 2
    PI-Chương 3
    PI-Chương 4
    PII-Chương 1
    PII-Chương 2
    PII-Chương 3
    PII-Chương 4
    PII-Chương 5
    PII-Chương 6
    PIII-Chương 1
    PIII-Chương 2
    PIII-Chương 3
    PIII-Chương 4
    PIII-Chương 5
    PIII-Chương 6
    PIII-Chương 7
    PIII-Chương 8
    PIII-Chương 9
    PIII-Chương 10
    PIII-Chương 11
    PIII-Chương 12
    PIII-Chương 13
    PIII-Chương 14

    PIII-Chương 15
    PIV-Chương 1
    PIV-Chương 2
    PIV-Chương 3
    PIV-Chương 4
    PIV-Chương 5
    PIV-Chương 6
    PIV-Chương 7
    PIV-Chương 8
    PIV-Chương 9
    PIV-Chương 10
    PIV-Chương 11
    PIV-Chương 12
    PV-Chương 1
    PV-Chương 2
    PV-Chương 3
    PV-Chương 4
    PV-Chương 5
    PV-Chương 6
    PV-Chương 7
    PV-Chương 8
    PV-Chương 9
    PV-Chương 10
    PV-Chương 11
    PV-Chương 12
    PV-Chương 13
    PV-Chương 14
    PV-Chương 15
    PV-Chương 16
    Tổng kết:

    VIỆT NAM SỬ LƯỢC
    Trần Trọng Kim
    www.dtv-ebook.com

    Tựa:
    Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công
    việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc
    ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người
    ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một
    nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ
    đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước
    được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của
    người trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới
    chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này.
    Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước
    mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng
    học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái
    nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng nên mà để lại cho
    mình. Bởi những lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đã có
    đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc lập, thì cũng
    có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần,

    vào quãng thế kỷ thứ XIII. Từ đó trở đi nhà nào lên làm
    vua cũng trọng sự làm sử. Nhưng cái lối làm sử của ta
    theo lối biên niên của Tàu. nghĩa là năm nào tháng nào
    có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách.
    Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy
    mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên
    can việc ấy với việc khác là thế nào.
    Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc
    chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không
    được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra
    trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà
    vua, hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của
    nhân dân trong nước. Vả, xưa nay ta vẫn chịu quyền
    chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước
    chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo
    cái chủ nghĩa ấy mà chép sử, thành ra sử đời nào cũng
    chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi. Bởi vậy xem
    sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học
    vấn là mấy.
    Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không
    mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm

    cho người mình không có thể biết được sử nước mình.
    Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học
    sử Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn
    chương gì cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện
    nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người mình có
    ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết
    làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn,
    chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học,
    việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không
    có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương
    ngôn: "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!" Cái sự
    học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong
    nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra
    làm sao được?
    Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử ta thì
    cũng có thể bởi đó mà biết được những sự đã qua ở
    nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu được nhiều việc
    quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay
    vần ra làm sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ
    Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở đi chắc rồi mỗi ngày
    một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ Nho còn

    nhiều, mà trong nước còn không có mấy người biết
    được chuyện nước nhà, huống chi mai sau này chữ Nho
    bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những việc quan
    hệ đến lịch sử nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!
    Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc
    ngữ đã phổ thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng
    nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ Việt
    Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại,
    đặt thành chương, thành mục rõ ràng, để ai ai cũng có
    thể xem được sử, ai ai cũng có thể hiểu được chuyện,
    khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn
    trước.
    Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời
    đại: Thời đại thứ nhất là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ
    Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. Trong thời đại ấy,
    từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tàu trước đời nhà
    Tần, phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền
    hoặc cả. Những nhà chép sử đời trước cũng theo tục
    truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà khảo
    cứu cho đích xác. Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ
    mà chép lại, rồi cũng phê bình một đôi câu để tỏ cho

    độc giả biết rằng những chuyện ấy không nên cho là xác
    thực.
    Thời đại thứ nhì là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua
    Vũ Đế nhà Hán lấy đất Nam Việt của nhà Triệu, cho đến
    đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ Khúc và họ Ngô xướng lên
    sự độc lập. Những công việc trong thời đại ấy, thì sử cũ
    của nước ta chép rất là sơ lược lắm. Vì rằng trong thời
    đại Bắc Thuộc, người mình chưa được tiến hóa, sự học
    hành còn kém, sách vở không có, cho nên về sau những
    nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê
    cứu vào đâu được, chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi. Vả,
    người Tàu lúc ấy vẫn cho mình là một xứ biên địa dã
    man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên những
    chuyện chép ở trong sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để
    cũng chỉ chép những chuyện cai trị, chuyện giặc giã,
    chứ các công việc khác thì không nói đến.
    Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn
    năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình
    thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có 1 điều ta
    nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh
    của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát

    được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn
    phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu
    ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày
    nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy
    gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ
    thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải
    mới có công hiệu vậy.
    Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô,
    nhà Đinh cho đến sơ-diệp nhà Hậu Lê. Nước mình từ
    thời đại ấy về sau là một nước dộc lập, tuy đối với nước
    Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là
    không ai xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình.
    Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới dấy lên; còn phải xây
    đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc
    võ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học
    không được mở mang lắm. Về sau đến đời nhà Lý, nhà
    Trần, công việc ở trong nước đã thành nền nếp, kẻ cừu
    địch ở ngoài cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều
    vua hiền tôi giỏi nối nhau mà lo việc nước, cho nên từ đó
    trở đi việc chính trị, việc tôn giáo và việc học vấn mỗi
    ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một nước

    có thế lực, bắc có thể chống được với Tàu, nam có thể
    mở rộng thêm bờ cõi. Nhà Lý và nhà Trần lại có công
    gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ, khiến cho về sau đến
    đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ quấy rối, người Tàu đã
    toan đường kiêm tính, người mình biết đồng tâm hiệp
    lực mà khôi phục lại giang sơn nhà. Kế đến nhà Lê,
    trong khoảng một trăm năm về buổi đầu, nước mình
    cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang
    Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), thì sự
    văn trị và võ công đã là rực rỡ lắm. Nhưng về sau gặp
    những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát, kẻ
    gian thần dấy loạn. Mối binh đao gây nên từ đó, người
    trong nước đánh giết lẫn nhau, làm thành ra nam bắc
    chia rẽ, vua chúa tranh quyền. Ấy thật là một cuộc biến
    lớn ở trong nước vậy.
    Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà
    Mạc làm sự thoán đoạt cho đến nhà Tây Sơn. Trước thì
    nam Lê, bắc Mạc, sau thì Nguyễn nam, Trịnh bắc, sự
    cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, lòng ghen ghét càng
    ngày càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương
    thường chểnh mảng: nước đã có vua lại có chúa. Trong

    Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn, công việc ở đâu,
    chủ trương ở đấy. Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc
    cũng có nhiều việc hay, mà việc khai khẩn trong Nam
    thật là ích lợi. Nhưng cuộc thành bại ai đâu dám chắc,
    cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát cả ngôi
    vua cùng nghiệp chúa. Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng
    không được 20 năm, thì bản triều nhà Nguyễn lại trung
    hưng lên, mà đem giang sơn về một mối, lập thành cái
    cảnh tượng nước Việt Nam ta ngày nay vậy.
    Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế
    Tổ bản triều cho đến cuộc Bảo Hộ bây giờ. Vua Thế Tổ
    khởi đầu giao thiệp với nước Pháp Lan Tây để mượn thế
    lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau vì những vua con
    cháu Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên
    Chúa và đóng cửa không cho ngoại quốc vào buôn bán.
    Những đình thần thì nhiều người trí lự hẹp hòi, cứ
    nghiễm nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi.
    Đối với những nước ngoại dương, thì thường hay gây
    nên sự bất hòa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực
    để bênh vực quyền lợi của mình. Vì những chính sách
    ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo Hộ.

    Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà
    soạn giả đã theo từng thời đại để đặt ra. Soạn giả đã cố
    sức xem xét và góp nhặt những sự ghi chép ở các sách
    chữ Nho và chữ Pháp, hoặc nhữNg chuyện rải rác ở các
    dã sử, rồi đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn
    ra bộ sách này, cốt để người đồng bang ta biết được
    chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn
    hoặc. Thời đại nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả
    cứ bình tĩnh cố theo cho đúng sự thực. Thỉnh thoảng có
    một đôi nơi soạn giả có đem ý kiến riêng của mình mà
    bàn với độc giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà
    Tây Sơn thì thiết tưởng rằng sử là của chung cả quốc
    dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho
    nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc và không
    vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy.
    Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử
    Lược chỉ cốt ghi chép những chuyện trọng yếu để hãy
    tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn quyển sách
    mà xem cho tiện. Còn như việc làm thành ra bộ sử thật
    là đích đáng, kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin
    để dành cho những bậc tài danh sau này sẽ ra công mà

    giúp cho nước ta về việc học sử. Bây giờ ta chưa có áo
    lụa, ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có
    thể làm cho ta đỡ rét. Nghĩa là ta hãy làm thế nào cho
    những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết
    một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn.
    Ấy là cái mục đích của soạn giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái
    mục đích ấy mà có thể tới được thì tưởng bộ sách này là
    bộ sách có ích vậy.
    Trần Trọng Kim

    VIỆT NAM SỬ LƯỢC
    Trần Trọng Kim
    www.dtv-ebook.com

    Nước Việt Nam:
    1. Quốc Hiệu
    2. Vị Trí và Diện Tích
    3. Địa Thế
    4. Chủng Loại
    5. Gốc Tích
    6. Người Việt Nam
    7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
    8. Lịch Sử Việt Nam
    1. Quốc Hiệu.
    Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258

    trước Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương
    Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến
    nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam
    thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây
    lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng
    Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật
    Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao
    Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ
    Phủ.
    Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị
    Sứ Quân, lập nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại
    Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt, đến đời vua
    Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
    Quốc.
    Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc
    (1802), lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường,
    mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh Mệnh lại cải
    làm Đại Nam.
    Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng
    ngày nay ta vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam,

    nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục nước Tàu,
    vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước
    nhà.
    2. Vị Trí và Diện Tích.
    Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á, hẹp
    bề ngang, dài bề dọc, hình cong như chữ S, trên phía
    bắc và dưới phía nam phình rộng ra, khúc giữa miền
    trung thì eo hẹp lại.
    Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam
    Hải); Tây giáp Ai Lao và Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu,
    liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
    Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét
    vuông chia ra như sau này:
    Bắc Việt: 105.000 km2
    Trung Việt: 150.000 km2
    Nam Việt: 57.000 km2

    3. Địa Thế.
    Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung Việt
    và Nam Việt. Đất Bắc Việt có sông Hồng Hà (tức là sông
    Nhị Hà) và sông Thái Bình. Mạn trên gọi là Thượng Du
    lắm rừng nhiều núi, ít người ở. Mạn dưới gọi là Trung
    Châu, đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
    Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở
    trong có núi Trường Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần
    đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở được mạn gần bể mà
    thôi.
    Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông
    (tức là sông Cửu Long), lại có sông Đồng Nai chảy ở
    mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều, dân gian trù phú
    và dễ làm ăn hơn cả
    4. Chủng Loại.
    Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền
    thương du Bắc Việt thì có dân Thái, (tức là Thổ),
    Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung Việt thì có

    dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì
    có dân Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân
    ấy ở trong ba nơi tất cả đến non một triệu người. Còn thì
    dân tộc Việt Nam ở hết cả.
    Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như
    sau này:
    Bắc Việt: 8.700.000 người
    Trung Việt: 5.650.000 người
    Nam Việt: 4.616.000 người
    Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người.
    {Số này là theo sách Địa Lý của ông H. Russier (1939)
    chép lại chứ không chắc đã đúng số nhất định của người
    mình.}
    5. Gốc tích.
    Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì
    người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng
    xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống

    phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn
    người Thái thì theo sông Mê Kông xuống, lập ra nước
    Tiêm La (tức là Thái Lan) và các nước Lào.
    Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói
    rằng nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu
    ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu bây giờ) ở phía
    Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ
    lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần
    xuống phía nam, người Tam Miêu phải lẩn núp trong
    rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
    Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ
    cũng chưa có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết
    rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao
    lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem
    các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là
    một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.
    Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng,
    về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm,
    lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh,
    chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi,

    mới thành ra người Việt Nam ngày nay.
    6. Người Việt Nam.
    Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà
    người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì
    nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ phong lưu,
    ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà
    cũ.
    Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn
    con người, chứ không to béo. Mặt thì xương xương,
    trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì đen và
    hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt,
    môi hơi dày, răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa
    mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi
    đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.
    Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn
    khăn vành rây, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo thì chật,
    ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía bắc Trung
    Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn
    ở nhà quê thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và

    Nam Việt thì đàn bà hay mặc quần cả, và búi tóc, chứ
    không đội khăn bao giờ.
    Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả
    các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh
    mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng
    dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý
    sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí,
    tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có
    tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác
    nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn
    sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can
    đảm, biết giữ kỹ luật.
    Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn,
    hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu
    danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ,
    sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo
    nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng
    nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.
    Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân,
    khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia

    đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường
    giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.
    Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một
    phong tục, nói một thứ tiếng, {Tuy rằng mỗi nơi có một
    ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ khác
    nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.}
    cùng giữ một kỹ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một
    dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.
    7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.
    Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra
    nhiều, mà ở phía bắc thì đã có nước Tàu cường thịnh,
    phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện,
    cho nên mới theo bờ bể lần xuống phía nam, đánh Lâm
    Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ
    cõi bây giờ.
    8. Lịch Sử Việt Nam.
    Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể
    hàng mấy nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần,

    chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế mà sau lại lập được
    cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của
    giống mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình
    không đến nỗi kém hèn cho lắm. Tuy rằng mình chưa
    làm được việc gì cho vẽ vang bằng người, nhưng mình
    còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một
    nước cường thịnh.
    Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến
    cố của nước mình đã trải qua, và kể những công việc
    của người mình làm từ đời nọ qua đời kia, để cho mọi
    người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
    Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam
    sử ra 5 phần để cho tiện sự kê cứu.
    Phần I: Thượng Cổ thời đại.
    Phần II: Bắc Thuộc thời đại.
    Phần III: Tự Chủ thời đại.
    Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.

    Phần V: Cận Kim thời đại.

    VIỆT NAM SỬ LƯỢC
    Trần Trọng Kim
    www.dtv-ebook.com
    Phần I : Thượng Cổ Thời Đại

    PI-Chương 1:
    Họ Hồng-Bàng
    (2879-258 trước Tây Lịch)
    1. Họ Hồng Bàng
    2. Nước Văn Lang
    3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
    Phù Đổng Thiên Vương
    Sơn Tinh Thủy Tinh
    1. Họ Hồng Bàng.
    Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời
    của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi

    Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng
    tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế
    Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua
    phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương
    nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích
    Quỷ.
    Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động
    Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm
    Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông
    giáp bể Nam Hải.
    Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào
    quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con
    gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối
    ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
    Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ,
    đẻ một lần được một trăm người con trai3. Lạc Long
    Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long Quân, nhà
    ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không
    được; nay được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên
    núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải". Gốc tích

    truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích
    Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày
    nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và
    tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là
    một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác
    được.
    2. Nước Văn Lang.
    Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang
    làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
    Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
    1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
    2. Châu Diên (Sơn Tây)
    3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
    4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
    5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
    6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)

    7. Lục Hải (Lạng Sơn)
    8. Ninh Hải (Quảng Yên)
    9. Dương Tuyền (Hải Dương)
    10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh
    Bình)
    11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
    12. Hoài Hoan (Nghệ An)
    13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
    14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
    15. Bình Văn ( ? )
    Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào
    địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn
    gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua
    gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các
    quan nhỏ gọi là Bồ Chính 4. Quyền chính trị thì cứ cha

    truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
    Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão
    (1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu,
    có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ
    đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người
    làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công
    Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về
    nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là
    đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
    Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý
    mão (158 trước Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
    Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng
    Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm
    nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây lịch)
    thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông
    vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng
    cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu
    được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng
    Bàng không chắc là truyện xác thực.

    3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
    Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước
    Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị giống thuồng
    luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để
    những giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa5.
    Sử lại chép rằng thuyền của ta ở đằng mũi thường hay
    làm hai con mắt, cũng có ý để cho các thứ thủy quái ở
    sông ở bể không quấy nhiễu đến.
    Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay
    người ta thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên
    Vương và truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
    4.Truyện Phù Đổng Thiên Vương:
    Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc
    Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ
    đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp
    nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là
    huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh
    giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi
    vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái

    roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy
    vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng,
    rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
    Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn
    thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng
    Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương6.
    Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không
    có lẽ tin làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có
    người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ
    ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở
    làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám
    tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh
    Gióng.
    5.Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh:
    Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người
    con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh
    và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn
    rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho
    người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được

    Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh
    Sơn Tây).
    Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ
    Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi
    dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở trên núi không
    việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi
    cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh
    xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó Sơn
    Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một
    lần, dân gian thật là cực khổ.
    Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng
    6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy
    xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả ruộng đất.
    Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng mà đặt
    ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
    Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối
    thập tam thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới
    có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ
    Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu
    Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên,

    làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà
    Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép từ họ Hồng Bàng
    đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về
    thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời
    thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy
    khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng
    nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại,
    cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ
    quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
    Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban
    đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở
    chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình.
    Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là
    con tiên cháu rồng, v.v....
    Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử
    nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là
    truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi vậy.
    ----------------------------{3 Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng

    nở ra một trăm con. }
    {4 Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình,
    chắc là bởi Bồ Chính mà ra. }
    {5 Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ mình
    mãi đến đời vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ. }
    {6 Có người chép truyện này nói rằng: Giặc Ân là
    quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như
    thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở
    vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ,
    Sơn Tây và Thiểm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất
    ở bên này sông Trường Giang là man di hết cả. Từ
    Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu
    đường đất. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm
    vua nữa, thì chắc cũng chưa có kỷ cương gì, có lẽ cũng
    giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà
    thôi, như thế thì đã có giao thiệp gì với nhà Ân mà đánh
    nhau. Vả lại, sử Tàu cũng không có chỗ nào chép đến
    truyện ấy. Vậy thì lẽ gì mà nói rằng giặc Ân là người nhà
    Ân bên Tàu. }

    VIỆT NAM SỬ LƯỢC
    Trần Trọng Kim
    www.dtv-ebook.com
    Phần I : Thượng Cổ Thời Đại

    PI-Chương 2
    1. Gốc Tích Nhà Thục
    2. Nước Âu Lạc
    3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
    4. Nhà Thục Mất Nước
    1. Gốc Tích Nhà Thục.
    Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước
    Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy
    giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị
    rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi
    Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi
    quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước
    Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không

    thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi
    lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang
    đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và
    có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân
    nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy ? Sử
    cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục
    tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào
    độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ không phải là Thục
    bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng bàn như thế.
    2. Nước Âu Lạc.
    Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng
    Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng
    lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù
    lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có
    binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu
    chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán,
    biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn
    Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự
    tử.
    Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp

    yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu
    là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện
    Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ
    (255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành.
    Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên
    mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ
    Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.
    3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.
    Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên
    này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất
    thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch).
    Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy
    đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và
    Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần
    phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất
    Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông),
    Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).
    Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người
    Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ
    Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy

    thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa
    thế nổi lên giết được Đồ Thư.
    4. Nhà Thục Mất Nước.
    Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có
    nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm
    Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập
    một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa
    thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao
    giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan
    úy quận Nam Hải.
    Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời
    vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy
    nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt7.
    Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa
    Thành, có những yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không
    được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn, có
    thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu
    quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại
    cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm cái

    lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một
    phát, giặc chết hàng vạn người.
    Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh...
     
    Gửi ý kiến