Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC
https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU
Lớp 6.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:42' 18-12-2024
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:42' 18-12-2024
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Thị Thu Thủy – Đinh Thị Hường (đồng Tổng Chủ biên)
Hà Văn Minh – Dương Thị Oanh – Nguyễn Việt Khôi – Trịnh Thị Thu Hà
Trần Thị Mai Phương – Bùi Thị Kim Anh (đồng Chủ biên)
Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Vũ Thị Lan – Nguyễn Thị Huyền – Nguyễn Thị Hương
Phùng Tôn Quyền – Võ Thị Sương – Trần Ngọc Diệu Linh – Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Nguyễn Mạnh Hùng – Vũ Xuân Thanh
Phạm Hùng – Nguyễn Duy Tiến – Nguyễn Thị Thu Nguyệt
LỜI NÓI ĐẦU
Các em yêu quý!
Các em đang sống trên mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ
sinh sống và cho đến nay, vẫn còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hoá rực rỡ mang
tên: Nền Văn hoá Hoà Bình.
Tỉnh Hoà Bình là cửa ngõ vùng Tây Bắc của nước ta, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh gần
4.600 km². Hoà Bình có địa hình đồi núi trùng điệp với nhiều thắng cảnh, nhiều khu du lịch
hấp dẫn như động thác Bờ, thác Mu, khu du lịch Chùa Tiên, bản Lác,... Hoà Bình có nhà máy
Thuỷ điện Hoà Bình, được xây dựng trên dòng sông Đà, là một trong các nhà máy thuỷ điện
lớn nhất khu vực Đông Nam Á và là biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô. Hoà
Bình còn có nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh nguyên liệu tập trung, được phát triển
và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím, vùng bưởi huyện Tân Lạc, Lạc
Sơn, Cao Phong; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc,... Trên địa bàn
tỉnh có sáu dân tộc chính sinh sống, gồm: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Các dân tộc
vừa giữ gìn bản sắc văn hoá riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn hoá các dân
tộc khác trong cộng đồng.
Cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6 sẽ góp phần trang bị cho các em
những hiểu biết cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội,
môi trường của tỉnh Hoà Bình. Từ đó góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương; ý
thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học trong nhà trường với những vấn đề đặt ra ở địa
phương; giúp các em hoà nhập với môi trường đang sinh sống, có trách nhiệm hơn trong việc
tìm hiểu, gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương, góp phần xây dựng
tỉnh Hoà Bình ngày càng giàu đẹp.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6 gồm 15 bài học, thuộc 7 lĩnh vực: văn
hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội, môi trường của tỉnh Hoà Bình.
Mỗi bài học được cấu trúc làm 4 phần: Mở đầu, Kiến thức mới, Luyện tập, Vận dụng.
Để học tốt Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6, các em hãy đọc kĩ hướng
dẫn và hoàn thành các nhiệm vụ trong từng bài học.
Hi vọng rằng, mỗi bài học trong cuốn tài liệu này sẽ là những khám phá mới mẻ giúp các
em hiểu nhiều hơn, yêu quý, tự hào và có trách nhiệm hơn về quê hương Hoà Bình yêu dấu.
CÁC TÁC GIẢ
MỤC LỤC
STT
Tên bài
Trang
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1
Lễ hội truyền thống quê em
7
2
Truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình
12
3
Văn hoá ứng xử của học sinh ở tỉnh Hoà Bình
18
4
Hoà Bình thời nguyên thuỷ
23
5
Hoà Bình thời Văn Lang – Âu Lạc
31
6
Hoà Bình thời Bắc thuộc
37
ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP
7
Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ tỉnh Hoà Bình
43
8
Địa hình, khí hậu, thuỷ văn tỉnh Hoà Bình
47
9
Tài nguyên đất, sinh vật, khoáng sản tỉnh Hoà Bình
54
10
Nghề, làng nghề truyền thống ở Hoà Bình
60
11
Làng nghề dệt thổ cẩm ở Hoà Bình
66
12
Làng nghề mây tre đan ở Hoà Bình
73
CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG
13
Uống nước nhớ nguồn
79
14
Các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Hoà Bình
86
15
Cùng bảo vệ động vật hoang dã ở địa phương em
92
Giải thích thuật ngữ
Nguồn tư liệu ảnh, bài
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Mục tiêu bài học:
Nhấn mạnh về yêu cầu cần đạt,
năng lực và phẩm chất, thái độ học
sinh cần đạt được sau khi học.
Mở đầu:
Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập
học sinh cần giải quyết; kết nối với
những điều học sinh đã biết, nêu
vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo
hứng thú đối với bài mới.
Lễ hội Khuống mùa là một lễ hội rất phổ biến của người Mường xưa. Lễ hội này diễn ra
sau tết Nguyên đán ít ngày, thường vào ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch. Ngày nay, lễ hội
Khuống mùa được tổ chức tại nhiều địa phương trong tỉnh với các tên gọi khác nhau như Lễ
hội Khai hạ Mường Bi (huyện Tân Lạc), lễ hội Đình Cổi (huyện Lạc Sơn), lễ hội Khai mùa
Mường Thàng (huyện Cao Phong), lễ hội Mường Động (huyện Kim Bôi)...
Mỗi địa phương có cách thức tổ chức lễ hội khác nhau. Ở huyện Tân Lạc, lễ hội Khuống
mùa có quy mô lớn gồm bảy xã tham gia. Dân làng mổ trâu để tế thần. Mở đầu ngày hội, mọi
người bắt tay vào sửa sang, khơi sâu rộng mương nước, sau đó là các hoạt động văn hoá, văn
nghệ. Lễ hội Khuống mùa ở huyện Lạc Sơn lại có nghi thức cày, cấy tượng trưng.
Mục đích của lễ hội Khuống mùa là để cầu cho mùa màng của một năm mới tươi tốt, thóc
lúa bội thu, nhà nhà no ấm. Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để
người Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc
sống tươi đẹp và yên bình.
Kiến thức mới:
Thông qua các nội dung (kênh hình,
kênh chữ) và các hoạt động học
tập, học sinh được khai thác và tiếp
nhận kiến thức mới.
Hình 1.1. Lễ hội Khai Hạ Mường Bi
Lễ hội đền Thác Bờ xưa kia thường diễn ra từ ngày mồng 7 tháng giêng, kéo dài đến hết
tháng 3 âm lịch tại đền Thác Bờ thuộc xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc.
Tương truyền năm 1430 – 1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La) qua đoạn
Thác Bờ hiểm trở đã được người dân địa phương giúp đỡ rất tận tình. Tiêu biểu là bà Đinh Thị
Vân người dân tộc Mường và một người phụ nữ dân tộc Dao giúp đỡ nhà vua về quân lương,
thuyền bè vượt thác... Khi hai bà mất, vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của hai bà và ban
chiếu cho lập đền thờ. Từ đó, hằng năm người dân ở đây thường tổ chức tế lễ để tưởng niệm
hai bà và các vị thần.
Ngày nay, lễ hội đền Thác Bờ chưa tổ chức được phần hội nhưng đông khách thập phương
đến tế lễ vào dịp đầu xuân cũng tạo nên không khí lễ hội rộn ràng. Lễ hội đền Thác Bờ nhằm
8
5
Luyện tập:
Là các câu hỏi, bài tập, thực hành
để củng cố kiến thức, rèn luyện các
kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.
Vận dụng:
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết các tình huống, vấn đề
trong thực tiễn.
6
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG QUÊ EM
Học xong bài này, em sẽ:
► Nêu được tên gọi, đặc điểm của một số lễ hội tiêu
biểu ở Hoà Bình.
► Trình bày được ý nghĩa của các lễ hội trong đời
sống tinh thần của người dân tại tỉnh Hoà Bình.
► Thực hiện được một số việc làm phù hợp để giữ
gìn, lan toả văn hoá lễ hội tại địa phương.
Kể tên một lễ hội ở tỉnh Hoà Bình mà em biết. Giới thiệu về một vài hoạt động trong
lễ hội mà em được chứng kiến hoặc tham gia.
1. Khái quát về lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
Trên mảnh đất Hòa Bình có sáu thành phần dân tộc chính sinh sống gồm người Mường,
Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Mỗi dân tộc có những lễ hội độc đáo và bao hàm nhiều ý nghĩa
nhân văn. Lễ hội của các dân tộc ở Hòa Bình gắn liền với những đặc điểm cụ thể về địa lý, tự
nhiên và đời sống xã hội của các cộng đồng dân cư tồn tại ở đây từ lâu đời, góp phần tạo nên
nét văn hóa riêng biệt, độc đáo của người dân nơi đây. Có thể kể đến một số lễ hội tiêu biểu
như: lễ hội Khuống mùa, lễ hội Cầu mưa, lễ hội Rửa lá lúa (người Mường), lễ hội Xên bản,
Xên mường (người Thái); Tết nhảy (người Dao)…
7
Lễ hội truyền thống của các dân tộc ở Hòa Bình có những đặc điểm khác nhau về tên gọi,
nguồn gốc, các hoạt động chính… nhưng tất cả đều có ý nghĩa chung là đề cao giá trị văn hoá
truyền thống, hướng con người đến những điều tốt đẹp. Một trong những nét đẹp văn hoá tiêu
biểu đó là truyền thống đoàn kết cộng đồng. Lễ hội còn hướng tới giáo dục lòng biết ơn đối
với tổ tiên, với những người có công đối với bản mường, giáo dục truyền thống “uống nước
nhớ nguồn”, văn hoá gia đình, dòng họ… Việc tổ chức lễ hội truyền thống hiệu quả không
chỉ để bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc mà còn góp phần phát triển du lịch, phát triển
kinh tế – xã hội của địa phương.
Trong những năm qua, tỉnh Hòa Bình đã có nhiều biện pháp để nhằm bảo tồn, phát huy
văn hóa truyền thống trong đó có lễ hội của các dân tộc. Đó là nâng cao nhận thức của người
dân; tuyên truyền, quảng bá về các lễ hội với du khách trong nước và quốc tế; tích hợp trong
giáo dục các thế hệ học sinh về giá trị của lễ hội thông qua các hoạt động giáo dục... Nhiều lễ
hội truyền thống ở Hòa Bình được các địa phương tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phù
hợp với phong tục tập quán, gắn với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc.
2. Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở tỉnh Hòa Bình.
Lễ hội Khuống mùa là một lễ hội rất phổ biến của người Mường xưa. Lễ hội này diễn ra
sau tết Nguyên đán ít ngày, thường vào ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch. Ngày nay, lễ hội
Khuống mùa được tổ chức tại nhiều địa phương trong tỉnh với các tên gọi khác nhau như lễ
hội Khai hạ Mường Bi (huyện Tân Lạc), lễ hội Đình Cổi (huyện Lạc Sơn), lễ hội Khai mùa
Mường Thàng (huyện Cao Phong), lễ hội Mường Động (huyện Kim Bôi)...
Hình 1.1. Lễ hội Khai Hạ Mường Bi
Mỗi địa phương có cách thức tổ chức lễ hội khác nhau. Ở huyện Tân Lạc, lễ hội Khuống
mùa có quy mô lớn gồm bảy xã tham gia. Dân làng mổ trâu để tế thần. Mở đầu ngày hội, mọi
8
người bắt tay vào sửa sang, khơi sâu rộng mương nước, sau đó là các hoạt động văn hoá, văn
nghệ. Lễ hội Khuống mùa ở huyện Lạc Sơn lại có nghi thức cày, cấy tượng trưng.
Mục đích của lễ hội Khuống mùa là để cầu cho mùa màng của một năm mới tươi tốt, thóc
lúa bội thu, nhà nhà no ấm. Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để
người Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc
sống tươi đẹp và yên bình.
Lễ hội đền Thác Bờ xưa kia thường diễn ra từ ngày mồng 7 tháng giêng, kéo dài đến hết
tháng 3 âm lịch tại đền Thác Bờ thuộc xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc.
Tương truyền năm 1430 – 1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La) qua đoạn
Thác Bờ hiểm trở đã được người dân địa phương giúp đỡ rất tận tình. Tiêu biểu là bà Đinh Thị
Vân người dân tộc Mường và một người phụ nữ dân tộc Dao giúp đỡ nhà vua về quân lương,
thuyền bè vượt thác... Khi hai bà mất, vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của hai bà và ban
chiếu cho lập đền thờ. Từ đó, hằng năm, người dân ở đây thường tổ chức tế lễ để tưởng niệm
hai bà và các vị thần.
Hình 1.2. Đền Thác Bờ
Ngày nay, lễ hội đền Thác Bờ chưa tổ chức được phần hội nhưng đông khách thập phương
đến tế lễ vào dịp đầu xuân cũng tạo nên không khí lễ hội rộn ràng. Lễ hội đền Thác Bờ nhằm
tưởng nhớ công ơn của những con người vì dân, vì nước và các vị thần; cầu mong một năm
khoẻ mạnh, bình an, may mắn và là dịp để khách thập phương tham quan trên khu du lịch hồ
Hoà Bình.
Lễ hội Xên mường là lễ hội văn hoá dân gian truyền thống của dân tộc Thái ở xã Chiềng
Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội được chia thành 2 phần chính là phần lễ và
phần hội. Phần lễ nghiêm trang gồm lễ cúng, dâng hương tại đền làng Bôn. Phần hội diễn ra
9
sôi động với các tiết mục văn nghệ chào mừng, đánh trống, chiêng rộn ràng mang đậm đà
bản sắc dân tộc Thái. Lễ hội còn diễn ra một số hoạt động văn hoá, văn nghệ, các trò chơi
dân gian; thi kéo co, bóng chuyền, bắn nỏ; trưng bày ẩm thực giữa các xóm trên địa bàn xã.
Hình 1.3. Lễ hội Xên mường
Lễ hội Xên mường diễn ra vào đầu xuân nhằm mục đích tưởng nhớ công lao của những
người khai hoang, mở đất, cầu mùa, cầu phúc và vui chơi, giải trí. Người dân gửi gắm vào
đó những ước vọng lớn lao về một cuộc sống bình yên, no ấm nơi bản mường.
– Em hãy tìm hiểu về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Hòa Bình trong bài đọc
theo gợi ý sau: tên lễ hội; thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội; hoạt động chính;
ý nghĩa của lễ hội.
Tên lễ hội
Thời
gian, địa
điểm diễn ra
lễ hội
Hoạt
động chính,
ý nghĩa của
lễ hội
– Trình bày ý nghĩa của các lễ hội truyền thống trong đời sống
tinh thần của người dân tỉnh Hoà Bình.
10
Tăng
cường tình
đoàn kết trong
cộng đồng...
?
Ý nghĩa?
?
?
1. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch để giới thiệu về một lễ hội truyền thống tại
Hoà Bình mà em đã tìm hiểu.
2. Nêu những việc em nên làm và không nên làm để góp phần bảo tồn và phát
huy văn hoá lễ hội tại địa phương.
Góp phần bảo
tồn, phát triển văn
hoá lễ hội địa
phương?
Việc
không nên làm?
Việc nên làm?
3. Tìm hiểu thêm một số lễ hội tại địa phương em theo gợi ý sau:
STT
Tên lễ hội
Thời gian
Địa điểm
Các hoạt động chính
?
?
?
?
11
2. TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA CÁC DÂN TỘC Ở HOÀ BÌNH
Học xong bài này, em sẽ:
► Trình bày được đặc điểm cơ bản truyện cổ tích của
một số dân tộc tiêu biểu ở Hoà Bình.
► Nêu được ý nghĩa của truyện cổ tích trong đời sống
cộng đồng.
► Kể tên, sưu tầm được một số truyện cổ tích ở Hoà Bình.
► Đề xuất được các hoạt động lưu truyền truyện cổ
tích của các dân tộc ở Hoà Bình.
Hãy kể tên một số truyện cổ tích ở tỉnh Hoà Bình mà em biết. Em ấn tượng với câu
chuyện nào nhất? Vì sao?
Hoà Bình có kho tàng truyện cổ tích phong phú của một số dân tộc cư trú lâu đời nơi
đây như: Mường, Thái, Dao,... Nội dung truyện cổ tích của các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
rất đa dạng, phản ánh đầy đủ mọi mặt trong đời sống xã hội từ nguồn gốc của loài người,
sự tích về các con vật đến các hiện tượng trong đời sống, các mâu thuẫn trong xã hội...
Truyện có yếu tố kì ảo, thể hiện trí tưởng tượng kì diệu và gửi gắm những ước mơ, khát
vọng của người dân nơi đây. Truyện cổ tích là nét đẹp trong đời sống tinh thần, chứa đựng
những giá trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng. Đó là những giá trị đã được đúc kết, xuyên
suốt quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc.
12
SỰ TÍCH MƯỜNG BI
(Truyện cổ tích của dân tộc Mường)
Ngày ấy, đã lâu lắm rồi, có một mường lớn giàu có nhất vùng. Mường lúc nào cũng thơm
mùi cơm nếp. Mỗi chiều về, tiếng mõ trâu rộn rã con đường vào xóm. Ngày lễ, tiếng cồng bay
xa năm núi mười mường, tiếng vui tiếng mời rượu cần của các trai mường quyện lẫn tiếng hát
của các cô gái làm say mê khách về chơi mường.
Cuộc sống no đủ và vui tươi làm ông trời khó chịu. Từ chín tầng mây ông vén mây nhìn
xuống. Lạ thay, sao họ sống sung sướng thế kia, ông muốn họ khổ ải mới cam lòng. Vì thế,
ông gọi thần Mưa đến sai mưa lũ phá cảnh yên bình dưới trần gian. Biết được ý trời chỉ có
chú rùa. Rùa vội vàng gom ít trứng đang ấp định ngược lên đỉnh núi Trù* cao nhất mường để
tránh lũ. Nhưng không may cho chú, có hai vợ chồng ở mường đi rừng về trông thấy liền tóm
luôn rùa mang về nhà. Rùa bị xỏ dây vào mai, treo ngay vào cột, cố giãy giụa thế nào cũng
không gỡ ra nổi. Lúc ấy, thần Mưa đã choàng áo đen bay đến mường, tay phải thần vung túi
nước, tay trái thần vung túi gió làm cây cối nghiêng ngả, sóng nước cồn lên.
Mưa mỗi lúc một to, gió mỗi lúc một lớn, hai vợ chồng vẫn không hay biết gì. Rùa vội
khẩn khoản:
– Ông ơi, bà ơi! Lại đây tôi bảo.
Hai vợ chồng nghe lạ liền đi lại gần rùa hỏi:
– Rùa bảo gì vợ chồng tôi?
– Ông ơi, bà ơi hãy cởi trói cho tôi, tôi sẽ mách điều này cứu sống ông bà.
– Rùa nói gì tôi không hiểu? Rùa bảo cứu sống vợ chồng tôi à? Rùa nói đi. Nếu mách điều
hay tôi sẽ tha cho rùa sống.
Rùa nói rõ dã tâm của trời để hai vợ chồng hay. Nghe xong, người chồng cởi dây trói cho
rùa và hỏi:
– Bây giờ chúng ta phải làm gì hả rùa?
– Ông hãy lấy ngay cây nối ghép thành mảng sẽ thoát chết, còn tôi bơi được trên nước tôi
sẽ bơi về phía ngọn Trù lánh nạn. Ông bà làm nhanh lên nước dâng lên bây giờ đấy.
Vừa dứt lời, nước đã lênh láng các vùng. Nước nhích đến chân thang. Người chồng vội
vàng đẵn hơn chục cây chuối dùng dây mây, dây song ghép thành mảng. Người vợ thu ào
mấy vác lúa vứt lên mảng. Mọi việc chưa xong thì dòng nước lũ đã sôi réo cuốn phăng ngôi
nhà hai vợ chồng đi.
Hai vợ chồng ngồi trên bè mặc cho dòng nước đưa đến đâu hay đến đó. Nước lên mỗi lúc
một cao, những ngọn núi thấp đã ngập, những ngọn núi cao chỉ còn thò chóp nón. Trên trời
mịt mù mây đen, dưới đất mênh mông sóng nước.
* Núi Trù (khụ Trù) hiện nay ở xóm Ngay – xã Mỹ Hoà – huyện Tân Lạc – tỉnh Hoà Bình.
13
Một tuần, hai tuần, nước vẫn không rút, trời vẫn không ngớt mưa. Bè chuối của hai vợ
chồng ngâm nước đã lâu bắt đầu rữa ra, chỉ ngày một ngày hai sẽ không tài nào ở nổi. Sự thể
mới nguy ngập làm sao. Họ trông trời, trông đất, trông mây và càng lo lắng. May thay lúc đó
bè chuối của hai vợ chồng đang trôi dạt thì mắc phải ngọn cây. Họ ôm chặt lấy ngọn cây đó,
hoá ra là ngọn cây gỗ pi vẫn còn tươi nguyên, không bị tróc rễ, mọc trên đỉnh núi Trù. Hai vợ
chồng bèn ghìm bè chuối lên ngọn cây pi sống qua ngày.
Sau hơn một tháng trừng phạt con người, ông trời vén mây nhìn xuống trần gian, chẳng
còn nhìn thấy vật gì ngoài tầng tầng lớp lớp sóng nước. Hả lòng hả dạ về việc làm đó, ông trời
mới sai thần Mưa rút nước về.
Nước rút dần, cây cỏ ủng eo chết thối, chỉ còn lại cây pi. Cây pi được ánh mặt trời sưởi ấm
đã bén rễ và nảy nhành ra lá, chẳng mấy chốc mà tươi xanh ra hoa, đậu quả, gieo hạt đi các nơi
xa nơi gần. Nước đã rút hết, vùng mường chỉ còn trơ trọi hai vợ chồng. Ít lâu sau, người vợ
mang thai. Cũng kể từ đó, hai vợ chồng sinh thêm nhiều con nữa. Vùng mường dần dần người
đông đúc lên. Vùng đất ấy sau này cây pi phát triển thành rừng. Nhớ ơn cứu sống mình, hai vợ
chồng liền đặt tên cho vùng mường họ sống là Mường Pi (sau này người ta gọi là Mường Bi).
Ơn cây pi, “sống để bụng, chết mang theo”, ông bà không quên dặn lại con cháu: Nếu họ
chết, cháu con phải lấy gỗ cây pi làm quan tài cho họ gửi thân. Tục lấy gỗ cây pi làm quan tài
và kiêng lấy cây pi làm củi ở Mường Bi hiện nay vẫn còn. Cũng vì nhớ ơn công lao của rùa
mà người Mường Bi không săn bắt rùa về ăn thịt.
(Theo Người Mường với văn hoá cổ truyền Mường Bi,
UBND huyện Tân Lạc, Sở VHTT Hà Sơn Bình, 1988)
14
1. Lựa chọn thông tin đúng về truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình.
a) Truyện cổ tích chứa đựng yếu tố kì ảo, hoang đường.
b) Kể về một số nhân vật lịch sử của địa phương.
c) Thể hiện ước mơ khát vọng của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình.
d) Thể hiện trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo của người dân Hoà Bình.
2. Xác định các chi tiết kì ảo trong truyện Sự tích Mường Bi. Nêu ý nghĩa của các chi
tiết đó.
3. Cách giải thích về sự ra đời của Mường Bi thể hiện điều gì trong nhận thức của
tác giả dân gian?
4. Những dấu hiệu nào giúp em nhận ra Sự tích Mường Bi là một truyện cổ tích?
5. Em thích chi tiết nào nhất trong truyện Sự tích Mường Bi? Hãy viết một đoạn văn
khoảng 5 câu trình bày suy nghĩ của em về chi tiết đó
6. Từ những hiểu biết về truyện cổ tích nói chung, truyện Sự tích Mường Bi nói
riêng, em hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở
Hoà Bình.
7. Thi kể chuyện
Kể lại một câu chuyện em yêu thích trong kho tàng truyện cổ tích của các dân tộc ở
Hoà Bình. Vì sao em thích truyện đó?
8. Nêu những việc em nên làm để góp phần gìn giữ, lưu truyền truyện cổ tích của các
dân tộc ở Hoà Bình.
15
9. Tìm hiểu và thống kê tên một số truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình theo
gợi ý sau:
TT
Tên truyện
Dân tộc
?
?
Tìm hiểu thêm
Cô gái chăn vịt
(Truyện cổ dân tộc Thái)
Xưa có một cô gái trẻ do cha mẹ mất sớm nên phải đi chăn vịt thuê cho nhà giàu để kiếm
sống. Ngày nào cũng như ngày nào, cô gái lùa đàn vịt ra cánh đồng cạnh suối để chăn cho nhà
chủ. Vừa chăn vịt, cô vừa hát những bài hát quen thuộc. Cô gái bé nhỏ, thiệt thòi nhưng hiền
lành, chịu thương, chịu khó.
16
Một hôm đang ngồi hát, cô thấy một bà cụ già đến bên cạnh. Bà cụ bảo:
– Đã mấy ngày hôm nay, thái tử của vua Thuỷ tề ở đây gặp nạn. Vua sai bà đến để đón cháu
xuống cứu giúp. Cháu xuống đi, công ơn sẽ được đền đáp xứng đáng.
Cô gái nói:
– Nhưng cháu có biết làm gì đâu.
Bà cụ lại nói:
– Hàng ngày cháu vẫn hát đấy thôi, vua Thuỷ tề đã biết rồi, cháu không giấu được đâu.
Cô gái thấy sợ phải gặp vua Thuỷ tề, nên tìm cách từ chối:
– Nhưng cháu còn đang chăn vịt cho chủ, nhỡ ra thì…
Bà cụ liền bảo:
– Bà sẽ cho người chăn giúp, không sợ mất đâu mà lo.
Cô gái cũng muốn biết dưới thuỷ cung như thế nào nên nhận lời đi. Bà lão nắm lấy tay cô
gái và dẫn đi. Thoáng chốc, cô thấy mình đang ở trong một cung điện lộng lẫy, người ra vào
tấp nập. Cô được đưa vào một gian phòng, cô giật mình sợ hãi khi nhìn thấy một con thuồng
luồng to như cột nhà, nó không còn biến hoá được vì đang mắc phải một tấm lưới của người
thuyền chài. Tấm lưới quấn chặt lấy nó làm nó ngắc ngoải. Thấy thế, cô gái bảo bà cụ lấy
một con dao nhỏ. Cô vừa cắt đứt từng mắt lưới vừa hát “Dao nhỏ cắt mắt lưới tơ”. Cô cứ hát
lặp đi lặp lại và cắt đến mắt lưới cuối cùng. Thái tử thuồng luồng đã được cứu thoát.
Vua Thuỷ tề trả công cho cô gái chăn vịt bằng rất nhiều vàng bạc châu báu. Khi bà cụ đưa
trả cô về bên bờ suối thì thấy đàn vịt không thiếu một con, hơn nữa còn rất to béo. Cô gái lùa
đàn vịt về trả cho chủ và thôi không làm kiếp chăn vịt thuê nữa.
(Theo Hợp tuyển văn học dân gian dân tộc Thái
huyện Mai Châu, NXB Hồng Đức, 2020)
17
3. VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH
Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong bài này, em sẽ:
► Nêu được ý nghĩa của việc giáo dục văn hóa ứng xử
và một số biểu hiện văn hóa ứng xử của học sinh ở
tỉnh Hòa Bình.
► Nhận xét, đánh giá được những việc làm phù hợp/
chưa phù hợp với văn hóa ứng xử của học sinh trong
gia đình, nhà trường, xã hội.
► Lập được kế hoạch rèn luyện bản thân để có hành vi
ứng xử phù hợp, có văn hóa.
Quan sát hình ảnh sau và cho biết, các bạn trong hình đang làm gì? Em có nhận xét
gì về hành động đó?
Hình 3.1
18
1. Văn hóa ứng xử và giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh ở tỉnh Hòa Bình
Văn hóa ứng xử được hiểu là các chuẩn mực mang tính đạo đức, thẩm mĩ chi phối hành vi
ứng xử của con người trong môi trường gia đình, nhà trường, ngoài xã hội được thể hiện qua
thái độ, lời nói, cử chỉ, hành động… trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể.
Văn hóa ứng xử của học sinh tỉnh Hòa Bình ở trong nhà trường được cụ thể hóa qua các
biểu hiện ứng xử với đồ vật, cảnh quan trong nhà trường; với thầy cô giáo; cán bộ nhân viên
trường học; với bạn bè. Trong gia đình, văn hóa ứng xử thể hiện qua cách giao tiếp, ứng xử
với người thân như ông bà, bố mẹ, anh chị em… Ngoài xã hội, văn hóa ứng xử thể hiện ở lời
nói, cử chỉ, hành vi …nơi công cộng, với những người xung quanh.
Trong những năm qua, tỉnh Hòa Bình đã đẩy mạnh việc giáo dục văn hóa ứng xử cho
học sinh bằng nhiều hoạt động như: tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa
ứng xử trong và ngoài nhà trường; giáo dục văn hóa ứng xử qua các môn học và hoạt động
giáo dục; tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội…
Việc giáo dục văn hóa ứng xử góp phần xây dựng nếp sống văn minh, môi trường học
tập, sinh hoạt lành mạnh, thân thiện, có văn hóa trong gia đình, nhà trường và xã hội. Mặt
khác, giáo dục văn hóa ứng xử giúp mỗi học sinh phát triển năng lực, hoàn thiện nhân
cách, trở thành những con người sống nhân ái, có trách nhiệm, trung thực, đoàn kết và
sáng tạo.
Với những ý nghĩa đó, ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ban hành
Kế hoạch số 194/KH–UBND triển khai Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học
giai đoạn 2020–2025 tỉnh Hòa Bình”. Đây là việc làm có ý nghĩa quan trọng góp phần xây
dựng văn hóa ứng xử, hướng tới một môi trường học tập lành mạnh, có văn hóa của học
sinh trong và ngoài nhà trường.
– Em hiểu thế nào là văn hóa ứng xử?
– Nêu ý nghĩa của việc giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh ở
tỉnh Hòa Bình.
19
2. Một số hình ảnh thể hiện hành vi ứng xử có văn hoá của học sinh ở tỉnh Hoà Bình:
Hình 3.2. Tặng quà người cao tuổi
Hình 3.3. Tri ân thầy cô giáo
Hình 3.4. Trông em giúp mẹ
Hình 3.5. Thu gom rác
– Quan sát các hình ảnh trên và tìm hiểu thêm tư liệu, em hãy liệt kê các
hành vi ứng xử có văn hoá của các bạn học sinh Hoà Bình hiện nay trong
nhà trường, gia đình và ngoài xã hội vào sơ đồ sau:
?
4
?
5
?
6
Hành
vi ứng xử
có văn hoá của
học sinh
20
1
Lễ phép với thầy, cô giáo
2
?
3
?
– Em sẽ bắt đầu bằng hành vi ứng xử như thế nào trong các trường
hợp sau:
Nội dung
Hành vi ứng xử
Khi làm phiền thầy, cô giáo, nhân viên trong
trường
?
Khi thăm hỏi, quan tâm tới người thân, bạn bè,
thầy cô
?
Khi muốn chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của
bản thân
?
Khi mắc lỗi với người khác
?
Khi nhìn thấy người xung quanh gặp khó khăn
?
1. Cánh hoa biết nói
Em vẽ bông hoa sau vào
vở và hãy viết một lời nói lịch
sự, thể hiện tình cảm với thầy
cô, bạn bè, người thân.
Ví dụ: Cảm ơn…
21
2. Em hãy sắp xếp những biểu hiện, hành vi sau vào bảng cho hợp lí:
a) Dùng lời nói thô tục, gây sự với bạn.
b) Ngôn ngữ trong sáng, cử chỉ thân thiện, đúng mực.
c)
Thái độ ôn hoà, nhã nhặn, lễ phép, tôn trọng thầy cô, bạn bè.
d) Quan tâm, giúp đỡ mọi người trong học tập và cuộc sống.
e) Giao tiếp với bạn bè cởi mở chân tình.
f) Khiêm tốn khi đánh giá về mình, thật thà trung thực khi đối xử với người khác.
g) Đoàn kết giúp đỡ bạn nhưng không bao che khuyết điểm cho bạn.
h) Lễ phép, tôn trọng và vâng lời thầy, cô giáo, kính trọng người lớn tuổi.
i)
Thân thiện nhưng giữ khoảng cách thầy trò.
j)
Nói xấu, xúc phạm thầy, cô giáo.
k)
Không giúp đỡ người lớn tuổi.
l)
Đi học muộn, đi xe trong trường.
m) Biết cảm ơn và xin lỗi đúng lúc.
Hành vi ứng xử có văn hoá của học sinh
Hành vi ứng xử thiếu văn hoá của học sinh
?
?
3. Đóng vai xử lí một trong hai tình huống sau:
Tình huống 1: Hôm nay, lớp em
được đến thăm Bảo tàng tỉnh Hoà Bình. Khi tham quan Bảo
tàng, bạn Nam đã trêu chọc các bạn đứng trước và còn chạm vào hiện vật
trong Bảo tàng. Em nghĩ gì về hành động của bạn Nam? Em sẽ làm gì,
nói gì với Nam trong tình huống đó?
22
Tình huống 2: Nhà Hoa ở phường Phương Lâm,
thành phố Hoà Bình. Tối nay, Hoa xin phép bố mẹ đi sinh nhật
người bạn thân ở phường bên cạnh. Bố mẹ Hoa không đồng ý vì lí do
đi buổi tối không an toàn. Nhưng Hoa đã hứa với bạn và rất muốn
đi. Nếu là Hoa em sẽ ứng xử như thế nào trong tình
huống đó?
4. Em hãy chọn một trong hai nhiệm vụ sau:
a. Chiếc lọ thần kì:
Em hãy chuẩn bị một chiếc lọ và ghi lên
một mảnh giấy màu về một lời nói hoặc việc
làm thể hiện ứng xử có văn hoá mà em đã
làm mỗi ngày. Khi chiếc lọ đầy những mảnh
giấy màu, em đã làm được những điều nhỏ bé
nhưng vô cùng ý nghĩa.
b. Lập kế hoạch thay đổi bản thân theo gợi ý sau:
Thời gian
Tuần 1
Tuần 2
Mục tiêu thay đổi
Hành động/ Hành vi
giao tiếp có văn hoá
Tạo hình ảnh vui tươi, – Luôn nở nụ cười khi
thân thiện, lễ phép với gặp người khác.
mọi người trong khi
– Chào hỏi thân thiện
giao tiếp.
?
?
23
Kết quả thay đổi
?
?
HOÀ BÌNH TỪ THỜI NGUYÊN THUỶ
ĐẾN THẾ KỈ X
Hoà Bình là một vùng đất cổ. Cách đây hơn 10 nghìn năm, cư dân nơi đây đã sáng tạo
ra một nền văn hoá gọi là nền “Văn hoá Hoà Bình”. Với những nét nổi bật trong kĩ thuật
chế tác đá, đời sống của con người thời Văn hoá Hoà Bình thực sự có những bước tiến
mới. Từ thời Nhà nước Văn Lang đến thời Bắc thuộc, nhân dân các dân tộc Hoà Bình vừa
đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của chế độ lang đạo vừa tham gia cuộc đấu tranh chống
phong kiến phương Bắc, giữ gìn những nét văn hoá mang tính bản địa.
4. HOÀ BÌNH THỜI NGUYÊN THUỶ
Học xong bài này, em sẽ:
► Kể được tên các địa điểm tìm thấy dấu tích người
nguyên thủy ở Hòa Bình.
► Trình bày được nét chính về cuộc sống vật chất và
tinh thần của cư dân Hoà Bình thời nguyên thuỷ.
► Có ý thức tìm hiểu về nền Văn hoá Hoà Bình.
Thời nguyên thuỷ, cư dân ở Hoà Bình
sống trong hang động, mái đá. Nhiều di chỉ
khảo cổ được phát hiện và khai quật ở Hoà
Bình đã chứng minh cuộc sống của cư dân
từ chỗ phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên,
đến chỗ đã biết việc chế tác ra những loại
công cụ bằng đá, bằng xương thú, khai phá
những vùng đất trồng lúa để có lương thực,
Hình 4.1. Tầng văn hoá khai quật tại hang Bưng,
cuộc sống ngày càng ổn định.
huyện Tân Lạc (hiện vật trưng bày tại Bảo tàng
tỉnh Hoà Bình)
24
Em hãy quan sát hình 4.1, 4.2 là những
hiện vật có liên quan đến thời nguyên thủy
ở Hòa Bình và cho biết suy nghĩ của mình
về vùng đất, về con người quê hương Hòa
Bình trong lịch sử.
Hình 4.2. Mảnh tước đá (hiện vật trưng bày tại
Bảo tàng tỉnh Hoà Bình)
1. Các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thuỷ ở Hoà Bình
Thời nguyên thuỷ ở Hoà Bình với đặc trưng nổi bật là nền Văn hóa Hòa Bình. Đây là quá
trình chuyển biến từ thời đá cũ sang thời đá mới, cách ngày nay khoảng từ 18.000 đến 7.500
năm. Địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân thời Văn hoá Hoà Bình là các hang động ở dãy núi
đá vôi chạy từ Tây Bắc qua Mai Châu, Đà Bắc xuống Tân Lạc, Lạc Sơn; từ Lương Sơn, Kim
Bôi về Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ,...
Người dân cư trú trong các hang động, mỗi hang động có một số gia đình. Mỗi gia đình có
vợ, chồng và con cái. Khi thành viên các gia đình đông hơn sẽ tách ra thành nhiều gia đình
nhỏ. Những gia đình nhỏ sống gần nhau, chiếm cứ vài ba thung lũng, hình thành “làng xã”
cổ xưa nhất Việt Nam.
Giai đoạn
Văn hóa Hòa Bình
Giai đoạn
hậu Văn hóa Hòa Bình
Công cụ đá thô
Công cụ đá mới
và công cụ xương
Công cụ đá mới
và đồ gốm
Xuất hiện dấu hiệu
gia đình nhỏ
Gồm nhiều gia đình
có quan hệ huyết tộc
Giai đoạn
tiền Văn hóa Hòa Bình
(khoảng từ 20.000 –
18.000 năm trước đây)
(khoảng từ 18.000 – 7.500
năm trước đây)
(khoảng từ 7.500 – 4.000
năm trước đây)
Xuất hiện “làng xã”
cổ xưa nhất Việt Nam
Có sự phân công lao động giữa nam và nữ, hưởng thụ bằng nhau
Sơ đồ các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thuỷ ở Hoà Bình
25
a) Em hãy kể tên một số địa điểm tìm thấy những dấu tích của người
nguyên thủy ở Hòa Bình?
b) Em hãy nêu các giai đoạn phát triển của nền Văn hóa Hòa Bình.
2. Đời sống vật chất của người nguyên thuỷ ở Hoà Bình
Ban đầu, nền kinh tế chủ yếu của cư dân Hoà Bình là săn bắt và hái lượm, cuộc sống lệ
thuộc vào tự nhiên. Đến cuối thời đá giữa đã xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai.
Di tích ở hang Xóm Trại đã phát
hiện dấu vết của hạt thóc, vỏ trấu,
hạt gạo cháy. Như vậy, cư dân Hoà
Bình thời nguyên thuỷ là một trong
những cư dân đầu tiên phát minh ra
nền nông nghiệp Việt Nam và là một
trong những trung tâm phát minh
nông nghiệp sớm nhất thế giới.
Hình 4.3. Di tích hang Xóm Trại, xã Tân Lập, huyện
Lạc Sơn
(Theo Địa chí tỉnh Hòa Bình, NXB
Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2020)
Thời nguyên thuỷ, người Hoà
BÌnh chế tác đá để tạo ra nhiều
loại công cụ như: rìu ngắn, rìu
dài được ghè một mặt. Đồ gốm
nặn tay hoặc có bàn x...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Thị Thu Thủy – Đinh Thị Hường (đồng Tổng Chủ biên)
Hà Văn Minh – Dương Thị Oanh – Nguyễn Việt Khôi – Trịnh Thị Thu Hà
Trần Thị Mai Phương – Bùi Thị Kim Anh (đồng Chủ biên)
Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Vũ Thị Lan – Nguyễn Thị Huyền – Nguyễn Thị Hương
Phùng Tôn Quyền – Võ Thị Sương – Trần Ngọc Diệu Linh – Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Nguyễn Mạnh Hùng – Vũ Xuân Thanh
Phạm Hùng – Nguyễn Duy Tiến – Nguyễn Thị Thu Nguyệt
LỜI NÓI ĐẦU
Các em yêu quý!
Các em đang sống trên mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ
sinh sống và cho đến nay, vẫn còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hoá rực rỡ mang
tên: Nền Văn hoá Hoà Bình.
Tỉnh Hoà Bình là cửa ngõ vùng Tây Bắc của nước ta, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh gần
4.600 km². Hoà Bình có địa hình đồi núi trùng điệp với nhiều thắng cảnh, nhiều khu du lịch
hấp dẫn như động thác Bờ, thác Mu, khu du lịch Chùa Tiên, bản Lác,... Hoà Bình có nhà máy
Thuỷ điện Hoà Bình, được xây dựng trên dòng sông Đà, là một trong các nhà máy thuỷ điện
lớn nhất khu vực Đông Nam Á và là biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô. Hoà
Bình còn có nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh nguyên liệu tập trung, được phát triển
và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím, vùng bưởi huyện Tân Lạc, Lạc
Sơn, Cao Phong; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc,... Trên địa bàn
tỉnh có sáu dân tộc chính sinh sống, gồm: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Các dân tộc
vừa giữ gìn bản sắc văn hoá riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn hoá các dân
tộc khác trong cộng đồng.
Cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6 sẽ góp phần trang bị cho các em
những hiểu biết cơ bản về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội,
môi trường của tỉnh Hoà Bình. Từ đó góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương; ý
thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học trong nhà trường với những vấn đề đặt ra ở địa
phương; giúp các em hoà nhập với môi trường đang sinh sống, có trách nhiệm hơn trong việc
tìm hiểu, gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương, góp phần xây dựng
tỉnh Hoà Bình ngày càng giàu đẹp.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6 gồm 15 bài học, thuộc 7 lĩnh vực: văn
hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, hướng nghiệp, chính trị – xã hội, môi trường của tỉnh Hoà Bình.
Mỗi bài học được cấu trúc làm 4 phần: Mở đầu, Kiến thức mới, Luyện tập, Vận dụng.
Để học tốt Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hoà Bình – Lớp 6, các em hãy đọc kĩ hướng
dẫn và hoàn thành các nhiệm vụ trong từng bài học.
Hi vọng rằng, mỗi bài học trong cuốn tài liệu này sẽ là những khám phá mới mẻ giúp các
em hiểu nhiều hơn, yêu quý, tự hào và có trách nhiệm hơn về quê hương Hoà Bình yêu dấu.
CÁC TÁC GIẢ
MỤC LỤC
STT
Tên bài
Trang
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1
Lễ hội truyền thống quê em
7
2
Truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình
12
3
Văn hoá ứng xử của học sinh ở tỉnh Hoà Bình
18
4
Hoà Bình thời nguyên thuỷ
23
5
Hoà Bình thời Văn Lang – Âu Lạc
31
6
Hoà Bình thời Bắc thuộc
37
ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP
7
Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ tỉnh Hoà Bình
43
8
Địa hình, khí hậu, thuỷ văn tỉnh Hoà Bình
47
9
Tài nguyên đất, sinh vật, khoáng sản tỉnh Hoà Bình
54
10
Nghề, làng nghề truyền thống ở Hoà Bình
60
11
Làng nghề dệt thổ cẩm ở Hoà Bình
66
12
Làng nghề mây tre đan ở Hoà Bình
73
CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG
13
Uống nước nhớ nguồn
79
14
Các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Hoà Bình
86
15
Cùng bảo vệ động vật hoang dã ở địa phương em
92
Giải thích thuật ngữ
Nguồn tư liệu ảnh, bài
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Mục tiêu bài học:
Nhấn mạnh về yêu cầu cần đạt,
năng lực và phẩm chất, thái độ học
sinh cần đạt được sau khi học.
Mở đầu:
Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập
học sinh cần giải quyết; kết nối với
những điều học sinh đã biết, nêu
vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo
hứng thú đối với bài mới.
Lễ hội Khuống mùa là một lễ hội rất phổ biến của người Mường xưa. Lễ hội này diễn ra
sau tết Nguyên đán ít ngày, thường vào ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch. Ngày nay, lễ hội
Khuống mùa được tổ chức tại nhiều địa phương trong tỉnh với các tên gọi khác nhau như Lễ
hội Khai hạ Mường Bi (huyện Tân Lạc), lễ hội Đình Cổi (huyện Lạc Sơn), lễ hội Khai mùa
Mường Thàng (huyện Cao Phong), lễ hội Mường Động (huyện Kim Bôi)...
Mỗi địa phương có cách thức tổ chức lễ hội khác nhau. Ở huyện Tân Lạc, lễ hội Khuống
mùa có quy mô lớn gồm bảy xã tham gia. Dân làng mổ trâu để tế thần. Mở đầu ngày hội, mọi
người bắt tay vào sửa sang, khơi sâu rộng mương nước, sau đó là các hoạt động văn hoá, văn
nghệ. Lễ hội Khuống mùa ở huyện Lạc Sơn lại có nghi thức cày, cấy tượng trưng.
Mục đích của lễ hội Khuống mùa là để cầu cho mùa màng của một năm mới tươi tốt, thóc
lúa bội thu, nhà nhà no ấm. Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để
người Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc
sống tươi đẹp và yên bình.
Kiến thức mới:
Thông qua các nội dung (kênh hình,
kênh chữ) và các hoạt động học
tập, học sinh được khai thác và tiếp
nhận kiến thức mới.
Hình 1.1. Lễ hội Khai Hạ Mường Bi
Lễ hội đền Thác Bờ xưa kia thường diễn ra từ ngày mồng 7 tháng giêng, kéo dài đến hết
tháng 3 âm lịch tại đền Thác Bờ thuộc xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc.
Tương truyền năm 1430 – 1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La) qua đoạn
Thác Bờ hiểm trở đã được người dân địa phương giúp đỡ rất tận tình. Tiêu biểu là bà Đinh Thị
Vân người dân tộc Mường và một người phụ nữ dân tộc Dao giúp đỡ nhà vua về quân lương,
thuyền bè vượt thác... Khi hai bà mất, vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của hai bà và ban
chiếu cho lập đền thờ. Từ đó, hằng năm người dân ở đây thường tổ chức tế lễ để tưởng niệm
hai bà và các vị thần.
Ngày nay, lễ hội đền Thác Bờ chưa tổ chức được phần hội nhưng đông khách thập phương
đến tế lễ vào dịp đầu xuân cũng tạo nên không khí lễ hội rộn ràng. Lễ hội đền Thác Bờ nhằm
8
5
Luyện tập:
Là các câu hỏi, bài tập, thực hành
để củng cố kiến thức, rèn luyện các
kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.
Vận dụng:
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết các tình huống, vấn đề
trong thực tiễn.
6
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
1. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG QUÊ EM
Học xong bài này, em sẽ:
► Nêu được tên gọi, đặc điểm của một số lễ hội tiêu
biểu ở Hoà Bình.
► Trình bày được ý nghĩa của các lễ hội trong đời
sống tinh thần của người dân tại tỉnh Hoà Bình.
► Thực hiện được một số việc làm phù hợp để giữ
gìn, lan toả văn hoá lễ hội tại địa phương.
Kể tên một lễ hội ở tỉnh Hoà Bình mà em biết. Giới thiệu về một vài hoạt động trong
lễ hội mà em được chứng kiến hoặc tham gia.
1. Khái quát về lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
Trên mảnh đất Hòa Bình có sáu thành phần dân tộc chính sinh sống gồm người Mường,
Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông. Mỗi dân tộc có những lễ hội độc đáo và bao hàm nhiều ý nghĩa
nhân văn. Lễ hội của các dân tộc ở Hòa Bình gắn liền với những đặc điểm cụ thể về địa lý, tự
nhiên và đời sống xã hội của các cộng đồng dân cư tồn tại ở đây từ lâu đời, góp phần tạo nên
nét văn hóa riêng biệt, độc đáo của người dân nơi đây. Có thể kể đến một số lễ hội tiêu biểu
như: lễ hội Khuống mùa, lễ hội Cầu mưa, lễ hội Rửa lá lúa (người Mường), lễ hội Xên bản,
Xên mường (người Thái); Tết nhảy (người Dao)…
7
Lễ hội truyền thống của các dân tộc ở Hòa Bình có những đặc điểm khác nhau về tên gọi,
nguồn gốc, các hoạt động chính… nhưng tất cả đều có ý nghĩa chung là đề cao giá trị văn hoá
truyền thống, hướng con người đến những điều tốt đẹp. Một trong những nét đẹp văn hoá tiêu
biểu đó là truyền thống đoàn kết cộng đồng. Lễ hội còn hướng tới giáo dục lòng biết ơn đối
với tổ tiên, với những người có công đối với bản mường, giáo dục truyền thống “uống nước
nhớ nguồn”, văn hoá gia đình, dòng họ… Việc tổ chức lễ hội truyền thống hiệu quả không
chỉ để bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc mà còn góp phần phát triển du lịch, phát triển
kinh tế – xã hội của địa phương.
Trong những năm qua, tỉnh Hòa Bình đã có nhiều biện pháp để nhằm bảo tồn, phát huy
văn hóa truyền thống trong đó có lễ hội của các dân tộc. Đó là nâng cao nhận thức của người
dân; tuyên truyền, quảng bá về các lễ hội với du khách trong nước và quốc tế; tích hợp trong
giáo dục các thế hệ học sinh về giá trị của lễ hội thông qua các hoạt động giáo dục... Nhiều lễ
hội truyền thống ở Hòa Bình được các địa phương tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phù
hợp với phong tục tập quán, gắn với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc.
2. Tìm hiểu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở tỉnh Hòa Bình.
Lễ hội Khuống mùa là một lễ hội rất phổ biến của người Mường xưa. Lễ hội này diễn ra
sau tết Nguyên đán ít ngày, thường vào ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch. Ngày nay, lễ hội
Khuống mùa được tổ chức tại nhiều địa phương trong tỉnh với các tên gọi khác nhau như lễ
hội Khai hạ Mường Bi (huyện Tân Lạc), lễ hội Đình Cổi (huyện Lạc Sơn), lễ hội Khai mùa
Mường Thàng (huyện Cao Phong), lễ hội Mường Động (huyện Kim Bôi)...
Hình 1.1. Lễ hội Khai Hạ Mường Bi
Mỗi địa phương có cách thức tổ chức lễ hội khác nhau. Ở huyện Tân Lạc, lễ hội Khuống
mùa có quy mô lớn gồm bảy xã tham gia. Dân làng mổ trâu để tế thần. Mở đầu ngày hội, mọi
8
người bắt tay vào sửa sang, khơi sâu rộng mương nước, sau đó là các hoạt động văn hoá, văn
nghệ. Lễ hội Khuống mùa ở huyện Lạc Sơn lại có nghi thức cày, cấy tượng trưng.
Mục đích của lễ hội Khuống mùa là để cầu cho mùa màng của một năm mới tươi tốt, thóc
lúa bội thu, nhà nhà no ấm. Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để
người Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc
sống tươi đẹp và yên bình.
Lễ hội đền Thác Bờ xưa kia thường diễn ra từ ngày mồng 7 tháng giêng, kéo dài đến hết
tháng 3 âm lịch tại đền Thác Bờ thuộc xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc.
Tương truyền năm 1430 – 1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La) qua đoạn
Thác Bờ hiểm trở đã được người dân địa phương giúp đỡ rất tận tình. Tiêu biểu là bà Đinh Thị
Vân người dân tộc Mường và một người phụ nữ dân tộc Dao giúp đỡ nhà vua về quân lương,
thuyền bè vượt thác... Khi hai bà mất, vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của hai bà và ban
chiếu cho lập đền thờ. Từ đó, hằng năm, người dân ở đây thường tổ chức tế lễ để tưởng niệm
hai bà và các vị thần.
Hình 1.2. Đền Thác Bờ
Ngày nay, lễ hội đền Thác Bờ chưa tổ chức được phần hội nhưng đông khách thập phương
đến tế lễ vào dịp đầu xuân cũng tạo nên không khí lễ hội rộn ràng. Lễ hội đền Thác Bờ nhằm
tưởng nhớ công ơn của những con người vì dân, vì nước và các vị thần; cầu mong một năm
khoẻ mạnh, bình an, may mắn và là dịp để khách thập phương tham quan trên khu du lịch hồ
Hoà Bình.
Lễ hội Xên mường là lễ hội văn hoá dân gian truyền thống của dân tộc Thái ở xã Chiềng
Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội được chia thành 2 phần chính là phần lễ và
phần hội. Phần lễ nghiêm trang gồm lễ cúng, dâng hương tại đền làng Bôn. Phần hội diễn ra
9
sôi động với các tiết mục văn nghệ chào mừng, đánh trống, chiêng rộn ràng mang đậm đà
bản sắc dân tộc Thái. Lễ hội còn diễn ra một số hoạt động văn hoá, văn nghệ, các trò chơi
dân gian; thi kéo co, bóng chuyền, bắn nỏ; trưng bày ẩm thực giữa các xóm trên địa bàn xã.
Hình 1.3. Lễ hội Xên mường
Lễ hội Xên mường diễn ra vào đầu xuân nhằm mục đích tưởng nhớ công lao của những
người khai hoang, mở đất, cầu mùa, cầu phúc và vui chơi, giải trí. Người dân gửi gắm vào
đó những ước vọng lớn lao về một cuộc sống bình yên, no ấm nơi bản mường.
– Em hãy tìm hiểu về một lễ hội truyền thống ở tỉnh Hòa Bình trong bài đọc
theo gợi ý sau: tên lễ hội; thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội; hoạt động chính;
ý nghĩa của lễ hội.
Tên lễ hội
Thời
gian, địa
điểm diễn ra
lễ hội
Hoạt
động chính,
ý nghĩa của
lễ hội
– Trình bày ý nghĩa của các lễ hội truyền thống trong đời sống
tinh thần của người dân tỉnh Hoà Bình.
10
Tăng
cường tình
đoàn kết trong
cộng đồng...
?
Ý nghĩa?
?
?
1. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch để giới thiệu về một lễ hội truyền thống tại
Hoà Bình mà em đã tìm hiểu.
2. Nêu những việc em nên làm và không nên làm để góp phần bảo tồn và phát
huy văn hoá lễ hội tại địa phương.
Góp phần bảo
tồn, phát triển văn
hoá lễ hội địa
phương?
Việc
không nên làm?
Việc nên làm?
3. Tìm hiểu thêm một số lễ hội tại địa phương em theo gợi ý sau:
STT
Tên lễ hội
Thời gian
Địa điểm
Các hoạt động chính
?
?
?
?
11
2. TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA CÁC DÂN TỘC Ở HOÀ BÌNH
Học xong bài này, em sẽ:
► Trình bày được đặc điểm cơ bản truyện cổ tích của
một số dân tộc tiêu biểu ở Hoà Bình.
► Nêu được ý nghĩa của truyện cổ tích trong đời sống
cộng đồng.
► Kể tên, sưu tầm được một số truyện cổ tích ở Hoà Bình.
► Đề xuất được các hoạt động lưu truyền truyện cổ
tích của các dân tộc ở Hoà Bình.
Hãy kể tên một số truyện cổ tích ở tỉnh Hoà Bình mà em biết. Em ấn tượng với câu
chuyện nào nhất? Vì sao?
Hoà Bình có kho tàng truyện cổ tích phong phú của một số dân tộc cư trú lâu đời nơi
đây như: Mường, Thái, Dao,... Nội dung truyện cổ tích của các dân tộc ở tỉnh Hoà Bình
rất đa dạng, phản ánh đầy đủ mọi mặt trong đời sống xã hội từ nguồn gốc của loài người,
sự tích về các con vật đến các hiện tượng trong đời sống, các mâu thuẫn trong xã hội...
Truyện có yếu tố kì ảo, thể hiện trí tưởng tượng kì diệu và gửi gắm những ước mơ, khát
vọng của người dân nơi đây. Truyện cổ tích là nét đẹp trong đời sống tinh thần, chứa đựng
những giá trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng. Đó là những giá trị đã được đúc kết, xuyên
suốt quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc.
12
SỰ TÍCH MƯỜNG BI
(Truyện cổ tích của dân tộc Mường)
Ngày ấy, đã lâu lắm rồi, có một mường lớn giàu có nhất vùng. Mường lúc nào cũng thơm
mùi cơm nếp. Mỗi chiều về, tiếng mõ trâu rộn rã con đường vào xóm. Ngày lễ, tiếng cồng bay
xa năm núi mười mường, tiếng vui tiếng mời rượu cần của các trai mường quyện lẫn tiếng hát
của các cô gái làm say mê khách về chơi mường.
Cuộc sống no đủ và vui tươi làm ông trời khó chịu. Từ chín tầng mây ông vén mây nhìn
xuống. Lạ thay, sao họ sống sung sướng thế kia, ông muốn họ khổ ải mới cam lòng. Vì thế,
ông gọi thần Mưa đến sai mưa lũ phá cảnh yên bình dưới trần gian. Biết được ý trời chỉ có
chú rùa. Rùa vội vàng gom ít trứng đang ấp định ngược lên đỉnh núi Trù* cao nhất mường để
tránh lũ. Nhưng không may cho chú, có hai vợ chồng ở mường đi rừng về trông thấy liền tóm
luôn rùa mang về nhà. Rùa bị xỏ dây vào mai, treo ngay vào cột, cố giãy giụa thế nào cũng
không gỡ ra nổi. Lúc ấy, thần Mưa đã choàng áo đen bay đến mường, tay phải thần vung túi
nước, tay trái thần vung túi gió làm cây cối nghiêng ngả, sóng nước cồn lên.
Mưa mỗi lúc một to, gió mỗi lúc một lớn, hai vợ chồng vẫn không hay biết gì. Rùa vội
khẩn khoản:
– Ông ơi, bà ơi! Lại đây tôi bảo.
Hai vợ chồng nghe lạ liền đi lại gần rùa hỏi:
– Rùa bảo gì vợ chồng tôi?
– Ông ơi, bà ơi hãy cởi trói cho tôi, tôi sẽ mách điều này cứu sống ông bà.
– Rùa nói gì tôi không hiểu? Rùa bảo cứu sống vợ chồng tôi à? Rùa nói đi. Nếu mách điều
hay tôi sẽ tha cho rùa sống.
Rùa nói rõ dã tâm của trời để hai vợ chồng hay. Nghe xong, người chồng cởi dây trói cho
rùa và hỏi:
– Bây giờ chúng ta phải làm gì hả rùa?
– Ông hãy lấy ngay cây nối ghép thành mảng sẽ thoát chết, còn tôi bơi được trên nước tôi
sẽ bơi về phía ngọn Trù lánh nạn. Ông bà làm nhanh lên nước dâng lên bây giờ đấy.
Vừa dứt lời, nước đã lênh láng các vùng. Nước nhích đến chân thang. Người chồng vội
vàng đẵn hơn chục cây chuối dùng dây mây, dây song ghép thành mảng. Người vợ thu ào
mấy vác lúa vứt lên mảng. Mọi việc chưa xong thì dòng nước lũ đã sôi réo cuốn phăng ngôi
nhà hai vợ chồng đi.
Hai vợ chồng ngồi trên bè mặc cho dòng nước đưa đến đâu hay đến đó. Nước lên mỗi lúc
một cao, những ngọn núi thấp đã ngập, những ngọn núi cao chỉ còn thò chóp nón. Trên trời
mịt mù mây đen, dưới đất mênh mông sóng nước.
* Núi Trù (khụ Trù) hiện nay ở xóm Ngay – xã Mỹ Hoà – huyện Tân Lạc – tỉnh Hoà Bình.
13
Một tuần, hai tuần, nước vẫn không rút, trời vẫn không ngớt mưa. Bè chuối của hai vợ
chồng ngâm nước đã lâu bắt đầu rữa ra, chỉ ngày một ngày hai sẽ không tài nào ở nổi. Sự thể
mới nguy ngập làm sao. Họ trông trời, trông đất, trông mây và càng lo lắng. May thay lúc đó
bè chuối của hai vợ chồng đang trôi dạt thì mắc phải ngọn cây. Họ ôm chặt lấy ngọn cây đó,
hoá ra là ngọn cây gỗ pi vẫn còn tươi nguyên, không bị tróc rễ, mọc trên đỉnh núi Trù. Hai vợ
chồng bèn ghìm bè chuối lên ngọn cây pi sống qua ngày.
Sau hơn một tháng trừng phạt con người, ông trời vén mây nhìn xuống trần gian, chẳng
còn nhìn thấy vật gì ngoài tầng tầng lớp lớp sóng nước. Hả lòng hả dạ về việc làm đó, ông trời
mới sai thần Mưa rút nước về.
Nước rút dần, cây cỏ ủng eo chết thối, chỉ còn lại cây pi. Cây pi được ánh mặt trời sưởi ấm
đã bén rễ và nảy nhành ra lá, chẳng mấy chốc mà tươi xanh ra hoa, đậu quả, gieo hạt đi các nơi
xa nơi gần. Nước đã rút hết, vùng mường chỉ còn trơ trọi hai vợ chồng. Ít lâu sau, người vợ
mang thai. Cũng kể từ đó, hai vợ chồng sinh thêm nhiều con nữa. Vùng mường dần dần người
đông đúc lên. Vùng đất ấy sau này cây pi phát triển thành rừng. Nhớ ơn cứu sống mình, hai vợ
chồng liền đặt tên cho vùng mường họ sống là Mường Pi (sau này người ta gọi là Mường Bi).
Ơn cây pi, “sống để bụng, chết mang theo”, ông bà không quên dặn lại con cháu: Nếu họ
chết, cháu con phải lấy gỗ cây pi làm quan tài cho họ gửi thân. Tục lấy gỗ cây pi làm quan tài
và kiêng lấy cây pi làm củi ở Mường Bi hiện nay vẫn còn. Cũng vì nhớ ơn công lao của rùa
mà người Mường Bi không săn bắt rùa về ăn thịt.
(Theo Người Mường với văn hoá cổ truyền Mường Bi,
UBND huyện Tân Lạc, Sở VHTT Hà Sơn Bình, 1988)
14
1. Lựa chọn thông tin đúng về truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình.
a) Truyện cổ tích chứa đựng yếu tố kì ảo, hoang đường.
b) Kể về một số nhân vật lịch sử của địa phương.
c) Thể hiện ước mơ khát vọng của đồng bào các dân tộc ở Hoà Bình.
d) Thể hiện trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo của người dân Hoà Bình.
2. Xác định các chi tiết kì ảo trong truyện Sự tích Mường Bi. Nêu ý nghĩa của các chi
tiết đó.
3. Cách giải thích về sự ra đời của Mường Bi thể hiện điều gì trong nhận thức của
tác giả dân gian?
4. Những dấu hiệu nào giúp em nhận ra Sự tích Mường Bi là một truyện cổ tích?
5. Em thích chi tiết nào nhất trong truyện Sự tích Mường Bi? Hãy viết một đoạn văn
khoảng 5 câu trình bày suy nghĩ của em về chi tiết đó
6. Từ những hiểu biết về truyện cổ tích nói chung, truyện Sự tích Mường Bi nói
riêng, em hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở
Hoà Bình.
7. Thi kể chuyện
Kể lại một câu chuyện em yêu thích trong kho tàng truyện cổ tích của các dân tộc ở
Hoà Bình. Vì sao em thích truyện đó?
8. Nêu những việc em nên làm để góp phần gìn giữ, lưu truyền truyện cổ tích của các
dân tộc ở Hoà Bình.
15
9. Tìm hiểu và thống kê tên một số truyện cổ tích của các dân tộc ở Hoà Bình theo
gợi ý sau:
TT
Tên truyện
Dân tộc
?
?
Tìm hiểu thêm
Cô gái chăn vịt
(Truyện cổ dân tộc Thái)
Xưa có một cô gái trẻ do cha mẹ mất sớm nên phải đi chăn vịt thuê cho nhà giàu để kiếm
sống. Ngày nào cũng như ngày nào, cô gái lùa đàn vịt ra cánh đồng cạnh suối để chăn cho nhà
chủ. Vừa chăn vịt, cô vừa hát những bài hát quen thuộc. Cô gái bé nhỏ, thiệt thòi nhưng hiền
lành, chịu thương, chịu khó.
16
Một hôm đang ngồi hát, cô thấy một bà cụ già đến bên cạnh. Bà cụ bảo:
– Đã mấy ngày hôm nay, thái tử của vua Thuỷ tề ở đây gặp nạn. Vua sai bà đến để đón cháu
xuống cứu giúp. Cháu xuống đi, công ơn sẽ được đền đáp xứng đáng.
Cô gái nói:
– Nhưng cháu có biết làm gì đâu.
Bà cụ lại nói:
– Hàng ngày cháu vẫn hát đấy thôi, vua Thuỷ tề đã biết rồi, cháu không giấu được đâu.
Cô gái thấy sợ phải gặp vua Thuỷ tề, nên tìm cách từ chối:
– Nhưng cháu còn đang chăn vịt cho chủ, nhỡ ra thì…
Bà cụ liền bảo:
– Bà sẽ cho người chăn giúp, không sợ mất đâu mà lo.
Cô gái cũng muốn biết dưới thuỷ cung như thế nào nên nhận lời đi. Bà lão nắm lấy tay cô
gái và dẫn đi. Thoáng chốc, cô thấy mình đang ở trong một cung điện lộng lẫy, người ra vào
tấp nập. Cô được đưa vào một gian phòng, cô giật mình sợ hãi khi nhìn thấy một con thuồng
luồng to như cột nhà, nó không còn biến hoá được vì đang mắc phải một tấm lưới của người
thuyền chài. Tấm lưới quấn chặt lấy nó làm nó ngắc ngoải. Thấy thế, cô gái bảo bà cụ lấy
một con dao nhỏ. Cô vừa cắt đứt từng mắt lưới vừa hát “Dao nhỏ cắt mắt lưới tơ”. Cô cứ hát
lặp đi lặp lại và cắt đến mắt lưới cuối cùng. Thái tử thuồng luồng đã được cứu thoát.
Vua Thuỷ tề trả công cho cô gái chăn vịt bằng rất nhiều vàng bạc châu báu. Khi bà cụ đưa
trả cô về bên bờ suối thì thấy đàn vịt không thiếu một con, hơn nữa còn rất to béo. Cô gái lùa
đàn vịt về trả cho chủ và thôi không làm kiếp chăn vịt thuê nữa.
(Theo Hợp tuyển văn học dân gian dân tộc Thái
huyện Mai Châu, NXB Hồng Đức, 2020)
17
3. VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH
Ở TỈNH HOÀ BÌNH
Học xong bài này, em sẽ:
► Nêu được ý nghĩa của việc giáo dục văn hóa ứng xử
và một số biểu hiện văn hóa ứng xử của học sinh ở
tỉnh Hòa Bình.
► Nhận xét, đánh giá được những việc làm phù hợp/
chưa phù hợp với văn hóa ứng xử của học sinh trong
gia đình, nhà trường, xã hội.
► Lập được kế hoạch rèn luyện bản thân để có hành vi
ứng xử phù hợp, có văn hóa.
Quan sát hình ảnh sau và cho biết, các bạn trong hình đang làm gì? Em có nhận xét
gì về hành động đó?
Hình 3.1
18
1. Văn hóa ứng xử và giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh ở tỉnh Hòa Bình
Văn hóa ứng xử được hiểu là các chuẩn mực mang tính đạo đức, thẩm mĩ chi phối hành vi
ứng xử của con người trong môi trường gia đình, nhà trường, ngoài xã hội được thể hiện qua
thái độ, lời nói, cử chỉ, hành động… trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể.
Văn hóa ứng xử của học sinh tỉnh Hòa Bình ở trong nhà trường được cụ thể hóa qua các
biểu hiện ứng xử với đồ vật, cảnh quan trong nhà trường; với thầy cô giáo; cán bộ nhân viên
trường học; với bạn bè. Trong gia đình, văn hóa ứng xử thể hiện qua cách giao tiếp, ứng xử
với người thân như ông bà, bố mẹ, anh chị em… Ngoài xã hội, văn hóa ứng xử thể hiện ở lời
nói, cử chỉ, hành vi …nơi công cộng, với những người xung quanh.
Trong những năm qua, tỉnh Hòa Bình đã đẩy mạnh việc giáo dục văn hóa ứng xử cho
học sinh bằng nhiều hoạt động như: tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa
ứng xử trong và ngoài nhà trường; giáo dục văn hóa ứng xử qua các môn học và hoạt động
giáo dục; tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội…
Việc giáo dục văn hóa ứng xử góp phần xây dựng nếp sống văn minh, môi trường học
tập, sinh hoạt lành mạnh, thân thiện, có văn hóa trong gia đình, nhà trường và xã hội. Mặt
khác, giáo dục văn hóa ứng xử giúp mỗi học sinh phát triển năng lực, hoàn thiện nhân
cách, trở thành những con người sống nhân ái, có trách nhiệm, trung thực, đoàn kết và
sáng tạo.
Với những ý nghĩa đó, ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ban hành
Kế hoạch số 194/KH–UBND triển khai Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học
giai đoạn 2020–2025 tỉnh Hòa Bình”. Đây là việc làm có ý nghĩa quan trọng góp phần xây
dựng văn hóa ứng xử, hướng tới một môi trường học tập lành mạnh, có văn hóa của học
sinh trong và ngoài nhà trường.
– Em hiểu thế nào là văn hóa ứng xử?
– Nêu ý nghĩa của việc giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh ở
tỉnh Hòa Bình.
19
2. Một số hình ảnh thể hiện hành vi ứng xử có văn hoá của học sinh ở tỉnh Hoà Bình:
Hình 3.2. Tặng quà người cao tuổi
Hình 3.3. Tri ân thầy cô giáo
Hình 3.4. Trông em giúp mẹ
Hình 3.5. Thu gom rác
– Quan sát các hình ảnh trên và tìm hiểu thêm tư liệu, em hãy liệt kê các
hành vi ứng xử có văn hoá của các bạn học sinh Hoà Bình hiện nay trong
nhà trường, gia đình và ngoài xã hội vào sơ đồ sau:
?
4
?
5
?
6
Hành
vi ứng xử
có văn hoá của
học sinh
20
1
Lễ phép với thầy, cô giáo
2
?
3
?
– Em sẽ bắt đầu bằng hành vi ứng xử như thế nào trong các trường
hợp sau:
Nội dung
Hành vi ứng xử
Khi làm phiền thầy, cô giáo, nhân viên trong
trường
?
Khi thăm hỏi, quan tâm tới người thân, bạn bè,
thầy cô
?
Khi muốn chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của
bản thân
?
Khi mắc lỗi với người khác
?
Khi nhìn thấy người xung quanh gặp khó khăn
?
1. Cánh hoa biết nói
Em vẽ bông hoa sau vào
vở và hãy viết một lời nói lịch
sự, thể hiện tình cảm với thầy
cô, bạn bè, người thân.
Ví dụ: Cảm ơn…
21
2. Em hãy sắp xếp những biểu hiện, hành vi sau vào bảng cho hợp lí:
a) Dùng lời nói thô tục, gây sự với bạn.
b) Ngôn ngữ trong sáng, cử chỉ thân thiện, đúng mực.
c)
Thái độ ôn hoà, nhã nhặn, lễ phép, tôn trọng thầy cô, bạn bè.
d) Quan tâm, giúp đỡ mọi người trong học tập và cuộc sống.
e) Giao tiếp với bạn bè cởi mở chân tình.
f) Khiêm tốn khi đánh giá về mình, thật thà trung thực khi đối xử với người khác.
g) Đoàn kết giúp đỡ bạn nhưng không bao che khuyết điểm cho bạn.
h) Lễ phép, tôn trọng và vâng lời thầy, cô giáo, kính trọng người lớn tuổi.
i)
Thân thiện nhưng giữ khoảng cách thầy trò.
j)
Nói xấu, xúc phạm thầy, cô giáo.
k)
Không giúp đỡ người lớn tuổi.
l)
Đi học muộn, đi xe trong trường.
m) Biết cảm ơn và xin lỗi đúng lúc.
Hành vi ứng xử có văn hoá của học sinh
Hành vi ứng xử thiếu văn hoá của học sinh
?
?
3. Đóng vai xử lí một trong hai tình huống sau:
Tình huống 1: Hôm nay, lớp em
được đến thăm Bảo tàng tỉnh Hoà Bình. Khi tham quan Bảo
tàng, bạn Nam đã trêu chọc các bạn đứng trước và còn chạm vào hiện vật
trong Bảo tàng. Em nghĩ gì về hành động của bạn Nam? Em sẽ làm gì,
nói gì với Nam trong tình huống đó?
22
Tình huống 2: Nhà Hoa ở phường Phương Lâm,
thành phố Hoà Bình. Tối nay, Hoa xin phép bố mẹ đi sinh nhật
người bạn thân ở phường bên cạnh. Bố mẹ Hoa không đồng ý vì lí do
đi buổi tối không an toàn. Nhưng Hoa đã hứa với bạn và rất muốn
đi. Nếu là Hoa em sẽ ứng xử như thế nào trong tình
huống đó?
4. Em hãy chọn một trong hai nhiệm vụ sau:
a. Chiếc lọ thần kì:
Em hãy chuẩn bị một chiếc lọ và ghi lên
một mảnh giấy màu về một lời nói hoặc việc
làm thể hiện ứng xử có văn hoá mà em đã
làm mỗi ngày. Khi chiếc lọ đầy những mảnh
giấy màu, em đã làm được những điều nhỏ bé
nhưng vô cùng ý nghĩa.
b. Lập kế hoạch thay đổi bản thân theo gợi ý sau:
Thời gian
Tuần 1
Tuần 2
Mục tiêu thay đổi
Hành động/ Hành vi
giao tiếp có văn hoá
Tạo hình ảnh vui tươi, – Luôn nở nụ cười khi
thân thiện, lễ phép với gặp người khác.
mọi người trong khi
– Chào hỏi thân thiện
giao tiếp.
?
?
23
Kết quả thay đổi
?
?
HOÀ BÌNH TỪ THỜI NGUYÊN THUỶ
ĐẾN THẾ KỈ X
Hoà Bình là một vùng đất cổ. Cách đây hơn 10 nghìn năm, cư dân nơi đây đã sáng tạo
ra một nền văn hoá gọi là nền “Văn hoá Hoà Bình”. Với những nét nổi bật trong kĩ thuật
chế tác đá, đời sống của con người thời Văn hoá Hoà Bình thực sự có những bước tiến
mới. Từ thời Nhà nước Văn Lang đến thời Bắc thuộc, nhân dân các dân tộc Hoà Bình vừa
đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của chế độ lang đạo vừa tham gia cuộc đấu tranh chống
phong kiến phương Bắc, giữ gìn những nét văn hoá mang tính bản địa.
4. HOÀ BÌNH THỜI NGUYÊN THUỶ
Học xong bài này, em sẽ:
► Kể được tên các địa điểm tìm thấy dấu tích người
nguyên thủy ở Hòa Bình.
► Trình bày được nét chính về cuộc sống vật chất và
tinh thần của cư dân Hoà Bình thời nguyên thuỷ.
► Có ý thức tìm hiểu về nền Văn hoá Hoà Bình.
Thời nguyên thuỷ, cư dân ở Hoà Bình
sống trong hang động, mái đá. Nhiều di chỉ
khảo cổ được phát hiện và khai quật ở Hoà
Bình đã chứng minh cuộc sống của cư dân
từ chỗ phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên,
đến chỗ đã biết việc chế tác ra những loại
công cụ bằng đá, bằng xương thú, khai phá
những vùng đất trồng lúa để có lương thực,
Hình 4.1. Tầng văn hoá khai quật tại hang Bưng,
cuộc sống ngày càng ổn định.
huyện Tân Lạc (hiện vật trưng bày tại Bảo tàng
tỉnh Hoà Bình)
24
Em hãy quan sát hình 4.1, 4.2 là những
hiện vật có liên quan đến thời nguyên thủy
ở Hòa Bình và cho biết suy nghĩ của mình
về vùng đất, về con người quê hương Hòa
Bình trong lịch sử.
Hình 4.2. Mảnh tước đá (hiện vật trưng bày tại
Bảo tàng tỉnh Hoà Bình)
1. Các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thuỷ ở Hoà Bình
Thời nguyên thuỷ ở Hoà Bình với đặc trưng nổi bật là nền Văn hóa Hòa Bình. Đây là quá
trình chuyển biến từ thời đá cũ sang thời đá mới, cách ngày nay khoảng từ 18.000 đến 7.500
năm. Địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân thời Văn hoá Hoà Bình là các hang động ở dãy núi
đá vôi chạy từ Tây Bắc qua Mai Châu, Đà Bắc xuống Tân Lạc, Lạc Sơn; từ Lương Sơn, Kim
Bôi về Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ,...
Người dân cư trú trong các hang động, mỗi hang động có một số gia đình. Mỗi gia đình có
vợ, chồng và con cái. Khi thành viên các gia đình đông hơn sẽ tách ra thành nhiều gia đình
nhỏ. Những gia đình nhỏ sống gần nhau, chiếm cứ vài ba thung lũng, hình thành “làng xã”
cổ xưa nhất Việt Nam.
Giai đoạn
Văn hóa Hòa Bình
Giai đoạn
hậu Văn hóa Hòa Bình
Công cụ đá thô
Công cụ đá mới
và công cụ xương
Công cụ đá mới
và đồ gốm
Xuất hiện dấu hiệu
gia đình nhỏ
Gồm nhiều gia đình
có quan hệ huyết tộc
Giai đoạn
tiền Văn hóa Hòa Bình
(khoảng từ 20.000 –
18.000 năm trước đây)
(khoảng từ 18.000 – 7.500
năm trước đây)
(khoảng từ 7.500 – 4.000
năm trước đây)
Xuất hiện “làng xã”
cổ xưa nhất Việt Nam
Có sự phân công lao động giữa nam và nữ, hưởng thụ bằng nhau
Sơ đồ các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thuỷ ở Hoà Bình
25
a) Em hãy kể tên một số địa điểm tìm thấy những dấu tích của người
nguyên thủy ở Hòa Bình?
b) Em hãy nêu các giai đoạn phát triển của nền Văn hóa Hòa Bình.
2. Đời sống vật chất của người nguyên thuỷ ở Hoà Bình
Ban đầu, nền kinh tế chủ yếu của cư dân Hoà Bình là săn bắt và hái lượm, cuộc sống lệ
thuộc vào tự nhiên. Đến cuối thời đá giữa đã xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai.
Di tích ở hang Xóm Trại đã phát
hiện dấu vết của hạt thóc, vỏ trấu,
hạt gạo cháy. Như vậy, cư dân Hoà
Bình thời nguyên thuỷ là một trong
những cư dân đầu tiên phát minh ra
nền nông nghiệp Việt Nam và là một
trong những trung tâm phát minh
nông nghiệp sớm nhất thế giới.
Hình 4.3. Di tích hang Xóm Trại, xã Tân Lập, huyện
Lạc Sơn
(Theo Địa chí tỉnh Hòa Bình, NXB
Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2020)
Thời nguyên thuỷ, người Hoà
BÌnh chế tác đá để tạo ra nhiều
loại công cụ như: rìu ngắn, rìu
dài được ghè một mặt. Đồ gốm
nặn tay hoặc có bàn x...
 





