Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường PTDTNT THCS và THPT B Đà Bắc
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
MỜI BẠN ĐẾN VỚI NGÔI TRƯỜNG PTDTNT THCS VÀ THPT B ĐÀ BẮC
https://www.youtube.com/watch?v=wZTuMyojarU
Đáp án môn Ngữ Văn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:24' 25-04-2024
Dung lượng: 233.7 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Xa Thị Tươi (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:24' 25-04-2024
Dung lượng: 233.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THCS NĂM HỌC 2023 - 2024
(ĐỀ CHÍNH THỨC)
Môn: NGỮ VĂN
Ngày thi: 15/3/2023
(Hướng dẫn chấm gồm có 06 trang)
Câu
Hướng dẫn chấm
Câu 1
I. Yêu cầu chung:
Thí sinh biết làm kiểu bài nghị luận xã hội, biết vận dụng kết hợp các
thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận trong bài làm.
Trình bày sạch sẽ, rõ ràng, không sai lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
II. Yêu cầu cụ thể:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, song phải đảm
bảo được những nội dung cơ bản sau:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận được gợi lên từ câu chuyện
2. Thân bài:
a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện
- Câu trả lời của hướng dẫn viên giải thích nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau
của những phần san hô:
+ Phần san hô phía eo biển nằm trong vùng biển lặng, không phải chịu
một thử thách nào của cuộc sống nên nhợt nhạt, thiếu sức sống.
+ Phần san hô nằm phía ngoài luôn luôn phải chịu đựng những thử
thách từ sóng gió bão bùng hàng ngày. Khi thay đổi và thích nghi với môi
trường, chúng phát triển tốt hơn, mạnh mẽ hơn và sinh sôi nhanh hơn, nhiều
màu sắc và đầy sức sống.
- Những hình ảnh đó mang ý nghĩa ẩn dụ về con người:
+ Những con người chỉ sống trong môi trường bình lặng, không phải
chịu thử thách của cuộc sống thì dễ yếu ớt, thiếu bản lĩnh, không khẳng định
được hết giá trị bản thân.
+ Khi đối mặt, chịu đựng, thay đổi để vượt qua những thử thách, khó
khăn trong cuộc sống hàng ngày thì con người sẽ mạnh mẽ hơn, trưởng thành
tốt đẹp hơn.
- Từ đó câu chuyện đem đến cho người đọc bài học: Vai trò, sự cần thiết của
việc trải nghiệm, thích nghi với những hoàn cảnh khó khăn thử thách để con
người phát triển tốt đẹp hơn, thành công hơn trong cuộc sống.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh giải thích được ý nghĩa ẩn dụ về con người và rút ra được bài
học qua câu chuyện: 0,75 đến 1,0 điểm.
- Nếu chạm được ý nhưng chưa đầy đủ: 0,25 đến 0,5 điểm.
b. Phân tích và chứng minh:
Thí sinh cần sử dụng lí lẽ, lập luận để chứng minh cho quan điểm của mình.
Với ý nghĩa và bài học trên, có thể đưa ra một số lí lẽ sau:
1
Biểu
điểm
8,0 điểm
0,25
0,5
1,0
3,0
- Trong cuộc đời, con người thường phải trải qua nhiều môi trường, hoàn cảnh
sống khác nhau: bình lặng hay sóng gió, thuận lợi hoặc khó khăn...
- Khi chỉ sống trong môi trường bình lặng, con người dễ yếu ớt, thiếu bản lĩnh,
thiếu hiểu biết, dễ thất bại và gục ngã trước những khó khăn, thử thách; không
bộc lộ hết khả năng, giá trị bản thân.
- Việc trải nghiệm, thay đổi và thích nghi những hoàn cảnh sống khó khăn,
thử thách có vai trò cần thiết, quan trọng với con người:
+ Giúp con người hiểu biết, trải nghiệm nhiều hoàn cảnh sống hơn, có
nhiều kinh nghiệm hơn.
+ Giúp tôi luyện ý chí, bản lĩnh, nỗ lực, vững vàng vượt qua những
khó khăn, thử thách.
+ Giúp con người sống năng động, linh hoạt, chủ động để thích nghi
và làm chủ hoàn cảnh.
+ Giúp con người bộc lộ được khả năng, vẻ đẹp, giá trị để trưởng thành
hơn, thành công hơn.
Lưu ý: Trong quá trình lí giải cần kết hợp đưa ra dẫn chứng để làm sáng tỏ
và tăng sức thuyết phục.
Hướng dẫn chấm:
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù
hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng: 2,5 đến 3,0 điểm.
- Lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu,
không phù hợp: 1,5 đến 2,25 điểm.
- Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không
liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn
chứng không phù hợp: 0,25 đến dưới 1,25 điểm.
Lưu ý:
- Lý lẽ, lập luận của thí sinh không nhất thiết phải trùng với đáp án, chỉ cần
logic, thuyết phục thì vẫn được điểm tối đa.
- Đây là dạng đề mở nên thí sinh có thể trình bày quan điểm theo nhiều
hướng khác nhau, tuy nhiên cần bám vào gợi dẫn trong đề.
c. Bàn luận và mở rộng:
- Phê phán những người sống an phận, ngại đối mặt với những khó khăn của
cuộc sống bên ngoài, hoặc khi đối mặt với khó khăn, thử thách dễ gục ngã,
thất bại.
- Cần biết trân trọng cuộc sống yên bình, hoàn cảnh sống thuận lợi; không phải
lúc nào cũng đối mặt với sóng gió, hiểm nguy vì dễ tổn hại đến bản thân và
người khác.
- Mỗi người (đặc biệt là tuổi trẻ) hãy dám trải nghiệm cuộc sống để tăng
cường cho bản thân chất sống, vốn sống; hãy phát huy hết năng lực của bản
thân bằng cách sống hết mình với hiện tại, đạt được những dự định trong
tương lai.
-…
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh mở rộng được 3 đến 4 ý trong đáp án và lập luận chặt chẽ, thuyết
phục: 1,5 điểm; nếu chạm được 2 đến 3 ý nhưng chưa thực sự thuyết phục:
1,0 điểm.
2
1,5
- Thí sinh mở rộng được 1 đến 2 ý trong đáp án và lập luận chặt chẽ, thuyết
phục được 0,75 điểm; nếu lập luận chưa chặt chẽ, thuyết phục: 0,25 đến 0,5
điểm.
d. Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được ý nghĩa và sự cần thiết của trải nghiệm, thích nghi với những
hoàn cảnh khó khăn thử thách để con người phát triển tốt đẹp hơn, thành công
hơn trong cuộc sống.
- Xây dựng cho mình lối sống tích cực, chủ động, bản lĩnh.
- Cần bình tĩnh đón nhận những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống để nỗ
lực vươn lên.
-…
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh rút ra được bài học bổ ích, ý nghĩa cho bản thân: 0,75 - 1,0 điểm
- Thí sinh rút ra được bài học nhưng chưa thực sự ý nghĩa, trọng tâm: 0,25
- 0,5 điểm.
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
III. Sáng tạo: Cho điểm sáng tạo những thí sinh có cách triển khai vấn đề
thú vị, cách diễn đạt hấp dẫn, giàu hình ảnh hoặc có tư duy phản biện sắc sảo.
1,0
0,5
0,25
12,0
điểm
Câu 2
I. Yêu cầu chung:
- Biết cách làm bài nghị luận văn học, biết huy động kiến thức về tác
phẩm văn học, lí luận văn học, có kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm
nhận văn chương, biết kết hợp các thao tác lập luận để viết bài.
- Bài viết cần mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính
tả, dùng từ, đặt câu.
- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải bám
sát yêu cầu của đề, có lí lẽ và căn cứ xác đáng.
II. Yêu cầu cụ thể:
Thí sinh có thể triển khai bằng nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm
bảo được các yêu cầu cơ bản sau:
1. Đảm bảo yêu cầu về bố cục:
Có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: “Tác phẩm văn học là một
công trình sáng tạo nghệ thuật bởi lao động của người nghệ sĩ đúng là lao
động sáng tạo”, chứng minh qua văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
3. Triển khai vấn đề:
a. Mở bài
- Giới thiệu và trích dẫn ý kiến của Nguyễn Minh Châu.
- Dẫn dắt vào văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm
Tiến Duật.
b. Thân bài
b.1 Giải thích, bàn luận (dùng kiến thức lí luận văn học)
* Giải thích:
- Tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo nghệ thuật: mỗi tác phẩm văn
học ra đời là kết quả của một quá trình tìm tòi, sáng tạo ra cái mới có giá trị.
3
0,25
0,25
11,0
0,5
2,0
- Lao động của nghệ sĩ là lao động sáng tạo: người nghệ sĩ luôn phải tìm tòi,
nghiên cứu, có những khám phá riêng về hình thức và nội dung để mang đến
cái mới cho văn học.
=> Ý nghĩa: nhận định của Nguyễn Minh Châu đề cao vai trò sáng tạo của
người nghệ sĩ trong sáng tác nghệ thuật.
* Bàn luận:
- Bản thân nghệ thuật là sáng tạo, làm nghệ thuật tức là làm công việc tìm
tòi, sáng tạo không ngừng để tìm ra phong cách. Sáng tác văn học cũng là
một hoạt động nghệ thuật. Bởi vậy, nó đòi hỏi mỗi nhà văn luôn phải có sự
sáng tạo, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”
(Nam Cao).
- Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.
Nói cách khác, tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo cả về hình thức
và nội dung.
- Sáng tạo là thôi thúc bên trong một lý tưởng, lẽ sống, một nhu cầu tự thân
của người nghệ sĩ. Sáng tạo như một nguyên lý bất thành văn, một cam kết
vô tư thầm lặng, tự nguyện của người nghệ sĩ. Bởi vậy, lao động của người
nghệ sĩ đúng là lao động sáng tạo.
- Người đọc tìm đến tác phẩm văn học là để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức
cái đẹp và những sáng tạo của người nghệ sĩ. Đồng thời sáng tạo trong văn
học đánh dấu bước phát triển của lịch sử văn học.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh biết bám vào từ ngữ trong ý kiến (không nhất thiết phải đầy đủ
như đáp án) để giải thích và suy ra đầy đủ ý nghĩa của ý kiến: 1,0 điểm; nếu
chạm được ý nhưng chưa đầy đủ: 0,75 điểm; nếu giải thích từ ngữ nhưng
không rút ra ý nghĩa khái quát hoặc chỉ nói đến ý nghĩa mà không giải thích
từ ngữ: 0,25 đến 0,5 điểm.
- Thí sinh bàn luận mỗi ý được 0,25 điểm.
b.2 Phân tích, chứng minh qua văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
* Giới thiệu khái quát về văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
và nhà thơ Phạm Tiến Duật.
* Những sáng tạo của Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính”
- Sáng tạo trong cách đặt nhan đề bài thơ độc đáo, khác lạ.
Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật rõ hình ảnh của toàn bài: những chiếc
xe không kính. Tác giả thêm vào nhan đề hai chữ “bài thơ” như nói lên cách
nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những
chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ
yếu muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam
dũng cảm, hiên ngang, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ, khắc nghiệt của
chiến tranh.
- Phạm Tiến Duật sáng tạo trong việc lựa chọn hình ảnh những chiếc xe
không kính.
+ Xưa nay, hình ảnh tàu xe vào thơ thường được “mĩ lệ hóa”, “lãng
mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Ở bài thơ này,
Phạm Tiến Duật đưa vào hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả
4
7,0
0,5
6,5
cụ thể, chi tiết, thực đến trần trụi và thường gặp trên tuyến đường Trường
Sơn.
+ Phải có một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế như Phạm Tiến Duật mới
phát hiện ra được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ
ca thời chống Mĩ.
- Bài thơ là sự sáng tạo trong cách nhìn, cách cảm nhận về vẻ đẹp hình tượng
những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.
+ Những người lính lái xe ra chiến trường với tư thế hiên ngang, ung
dung, tự tin.
+ Họ là những chiến sĩ lái xe với tinh thần lạc quan, trẻ trung, sôi nổi,
bất chấp khó khăn, nguy hiểm: các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh
mà không hề run sợ, né tránh với một bản lĩnh vững vàng. Niềm vui, tiếng
cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của
cuộc chiến.
+ Tình đồng chí, đồng đội sâu đậm được thể hiện một cách tự nhiên,
dung dị.
+ Họ là những người lính có lí tưởng sống cao đẹp, lòng yêu nước,
sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
- Bài thơ còn là sự sự sáng tạo trong cách thể hiện, khẳng định tiếng nói,
cảm xúc của cái tôi cá nhân. Đó là một cảm xúc chân thành, hồn nhiên đậm
chất lính và dạt dào tình cảm yêu nước.
- Sáng tạo trong ngôn ngữ, giọng điệu:
+ Ngôn ngữ giản dị, đậm chất văn xuôi, gần với lời nói thường mang
tính khẩu ngữ, tự nhiên, khoẻ khoắn; kết hợp linh hoạt giữa thể 7 chữ với
thể 8 chữ, có chỗ 6 hay 10 chữ; sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ (ẩn dụ,
điệp từ, điệp cấu trúc câu, liệt kê…) tạo cho bài thơ một điệu thơ sinh động,
góp phần tạo nên chất thơ mới trong thơ viết về đề tài người lính của nhà thơ
Phạm Tiến Duật.
+ Giọng điệu vui tươi, sôi nổi, trẻ trung, hóm hỉnh có vẻ tinh nghịch
pha chút ngang tàng, dũng cảm, bất chấp những nguy hiểm, khó khăn của
những người lính lái xe Trường Sơn thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ
cứu nước.
(Phân tích dẫn chứng).
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh phân tích sâu sắc dẫn chứng thuyết phục đủ 5 ý: 6,5 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 1: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 2: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 3: 2,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 4: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 5: 1,5 điểm
b.3. Đánh giá về nhận định của Nguyễn Minh Châu
Nhận định đặt ra vai trò cho người nghệ sĩ và người tiếp nhận văn chương.
- Với người nghệ sĩ: Phải dám sáng tạo dẫu đôi khi sáng tạo là sự dấn
thân vào những cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm bởi đó là thiên chức cao quý
của người cầm bút. Sáng tạo trên cơ sở kế thừa và phát huy. Sự sáng tạo góp
phần làm nên gương mặt tinh thần riêng của mỗi nhà văn, diện mạo của nền
văn học, thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật.
5
1,0
- Với người đọc: Thưởng thức và trân trọng những sáng tạo nghệ
thuật của người nghệ sĩ với tất cả tâm hồn của người đồng sáng tạo.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh bàn luận, mở rộng sâu sắc mỗi ý được 0,5 điểm.
c. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của nhận định
4. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng nguyên tắc về chính
tả, dùng từ, đặt câu.
5. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới
mẻ về vấn đề nghị luận.
0,5
0,25
0,25
20,0
điểm
Tổng điểm:
Lưu ý:
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một
cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Giám khảo cần vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, căn cứ
cụ thể vào bài làm của thí sinh để cho các mức điểm phù hợp; trân trọng sự sáng tạo của thí sinh,
khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có
những ý ngoài đáp án nhưng lí luận sắc bén, xác đáng và có sức thuyết phục.
- Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm những bài văn đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu
ở mỗi câu, đồng thời phải được trình bày chặt chẽ, lưu loát, có cảm xúc.
- Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
- Cần trừ điểm những bài có nhiều lỗi chính tả, hành văn, ngữ pháp.
- Điểm bài thi có thể lẻ đến 0,25 và không làm tròn số.
------------------------HẾT-------------------------
6
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THCS NĂM HỌC 2023 - 2024
(ĐỀ CHÍNH THỨC)
Môn: NGỮ VĂN
Ngày thi: 15/3/2023
(Hướng dẫn chấm gồm có 06 trang)
Câu
Hướng dẫn chấm
Câu 1
I. Yêu cầu chung:
Thí sinh biết làm kiểu bài nghị luận xã hội, biết vận dụng kết hợp các
thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận trong bài làm.
Trình bày sạch sẽ, rõ ràng, không sai lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
II. Yêu cầu cụ thể:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, song phải đảm
bảo được những nội dung cơ bản sau:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận được gợi lên từ câu chuyện
2. Thân bài:
a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện
- Câu trả lời của hướng dẫn viên giải thích nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau
của những phần san hô:
+ Phần san hô phía eo biển nằm trong vùng biển lặng, không phải chịu
một thử thách nào của cuộc sống nên nhợt nhạt, thiếu sức sống.
+ Phần san hô nằm phía ngoài luôn luôn phải chịu đựng những thử
thách từ sóng gió bão bùng hàng ngày. Khi thay đổi và thích nghi với môi
trường, chúng phát triển tốt hơn, mạnh mẽ hơn và sinh sôi nhanh hơn, nhiều
màu sắc và đầy sức sống.
- Những hình ảnh đó mang ý nghĩa ẩn dụ về con người:
+ Những con người chỉ sống trong môi trường bình lặng, không phải
chịu thử thách của cuộc sống thì dễ yếu ớt, thiếu bản lĩnh, không khẳng định
được hết giá trị bản thân.
+ Khi đối mặt, chịu đựng, thay đổi để vượt qua những thử thách, khó
khăn trong cuộc sống hàng ngày thì con người sẽ mạnh mẽ hơn, trưởng thành
tốt đẹp hơn.
- Từ đó câu chuyện đem đến cho người đọc bài học: Vai trò, sự cần thiết của
việc trải nghiệm, thích nghi với những hoàn cảnh khó khăn thử thách để con
người phát triển tốt đẹp hơn, thành công hơn trong cuộc sống.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh giải thích được ý nghĩa ẩn dụ về con người và rút ra được bài
học qua câu chuyện: 0,75 đến 1,0 điểm.
- Nếu chạm được ý nhưng chưa đầy đủ: 0,25 đến 0,5 điểm.
b. Phân tích và chứng minh:
Thí sinh cần sử dụng lí lẽ, lập luận để chứng minh cho quan điểm của mình.
Với ý nghĩa và bài học trên, có thể đưa ra một số lí lẽ sau:
1
Biểu
điểm
8,0 điểm
0,25
0,5
1,0
3,0
- Trong cuộc đời, con người thường phải trải qua nhiều môi trường, hoàn cảnh
sống khác nhau: bình lặng hay sóng gió, thuận lợi hoặc khó khăn...
- Khi chỉ sống trong môi trường bình lặng, con người dễ yếu ớt, thiếu bản lĩnh,
thiếu hiểu biết, dễ thất bại và gục ngã trước những khó khăn, thử thách; không
bộc lộ hết khả năng, giá trị bản thân.
- Việc trải nghiệm, thay đổi và thích nghi những hoàn cảnh sống khó khăn,
thử thách có vai trò cần thiết, quan trọng với con người:
+ Giúp con người hiểu biết, trải nghiệm nhiều hoàn cảnh sống hơn, có
nhiều kinh nghiệm hơn.
+ Giúp tôi luyện ý chí, bản lĩnh, nỗ lực, vững vàng vượt qua những
khó khăn, thử thách.
+ Giúp con người sống năng động, linh hoạt, chủ động để thích nghi
và làm chủ hoàn cảnh.
+ Giúp con người bộc lộ được khả năng, vẻ đẹp, giá trị để trưởng thành
hơn, thành công hơn.
Lưu ý: Trong quá trình lí giải cần kết hợp đưa ra dẫn chứng để làm sáng tỏ
và tăng sức thuyết phục.
Hướng dẫn chấm:
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù
hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng: 2,5 đến 3,0 điểm.
- Lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu,
không phù hợp: 1,5 đến 2,25 điểm.
- Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không
liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn
chứng không phù hợp: 0,25 đến dưới 1,25 điểm.
Lưu ý:
- Lý lẽ, lập luận của thí sinh không nhất thiết phải trùng với đáp án, chỉ cần
logic, thuyết phục thì vẫn được điểm tối đa.
- Đây là dạng đề mở nên thí sinh có thể trình bày quan điểm theo nhiều
hướng khác nhau, tuy nhiên cần bám vào gợi dẫn trong đề.
c. Bàn luận và mở rộng:
- Phê phán những người sống an phận, ngại đối mặt với những khó khăn của
cuộc sống bên ngoài, hoặc khi đối mặt với khó khăn, thử thách dễ gục ngã,
thất bại.
- Cần biết trân trọng cuộc sống yên bình, hoàn cảnh sống thuận lợi; không phải
lúc nào cũng đối mặt với sóng gió, hiểm nguy vì dễ tổn hại đến bản thân và
người khác.
- Mỗi người (đặc biệt là tuổi trẻ) hãy dám trải nghiệm cuộc sống để tăng
cường cho bản thân chất sống, vốn sống; hãy phát huy hết năng lực của bản
thân bằng cách sống hết mình với hiện tại, đạt được những dự định trong
tương lai.
-…
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh mở rộng được 3 đến 4 ý trong đáp án và lập luận chặt chẽ, thuyết
phục: 1,5 điểm; nếu chạm được 2 đến 3 ý nhưng chưa thực sự thuyết phục:
1,0 điểm.
2
1,5
- Thí sinh mở rộng được 1 đến 2 ý trong đáp án và lập luận chặt chẽ, thuyết
phục được 0,75 điểm; nếu lập luận chưa chặt chẽ, thuyết phục: 0,25 đến 0,5
điểm.
d. Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được ý nghĩa và sự cần thiết của trải nghiệm, thích nghi với những
hoàn cảnh khó khăn thử thách để con người phát triển tốt đẹp hơn, thành công
hơn trong cuộc sống.
- Xây dựng cho mình lối sống tích cực, chủ động, bản lĩnh.
- Cần bình tĩnh đón nhận những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống để nỗ
lực vươn lên.
-…
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh rút ra được bài học bổ ích, ý nghĩa cho bản thân: 0,75 - 1,0 điểm
- Thí sinh rút ra được bài học nhưng chưa thực sự ý nghĩa, trọng tâm: 0,25
- 0,5 điểm.
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
III. Sáng tạo: Cho điểm sáng tạo những thí sinh có cách triển khai vấn đề
thú vị, cách diễn đạt hấp dẫn, giàu hình ảnh hoặc có tư duy phản biện sắc sảo.
1,0
0,5
0,25
12,0
điểm
Câu 2
I. Yêu cầu chung:
- Biết cách làm bài nghị luận văn học, biết huy động kiến thức về tác
phẩm văn học, lí luận văn học, có kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm
nhận văn chương, biết kết hợp các thao tác lập luận để viết bài.
- Bài viết cần mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính
tả, dùng từ, đặt câu.
- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải bám
sát yêu cầu của đề, có lí lẽ và căn cứ xác đáng.
II. Yêu cầu cụ thể:
Thí sinh có thể triển khai bằng nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm
bảo được các yêu cầu cơ bản sau:
1. Đảm bảo yêu cầu về bố cục:
Có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: “Tác phẩm văn học là một
công trình sáng tạo nghệ thuật bởi lao động của người nghệ sĩ đúng là lao
động sáng tạo”, chứng minh qua văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
3. Triển khai vấn đề:
a. Mở bài
- Giới thiệu và trích dẫn ý kiến của Nguyễn Minh Châu.
- Dẫn dắt vào văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm
Tiến Duật.
b. Thân bài
b.1 Giải thích, bàn luận (dùng kiến thức lí luận văn học)
* Giải thích:
- Tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo nghệ thuật: mỗi tác phẩm văn
học ra đời là kết quả của một quá trình tìm tòi, sáng tạo ra cái mới có giá trị.
3
0,25
0,25
11,0
0,5
2,0
- Lao động của nghệ sĩ là lao động sáng tạo: người nghệ sĩ luôn phải tìm tòi,
nghiên cứu, có những khám phá riêng về hình thức và nội dung để mang đến
cái mới cho văn học.
=> Ý nghĩa: nhận định của Nguyễn Minh Châu đề cao vai trò sáng tạo của
người nghệ sĩ trong sáng tác nghệ thuật.
* Bàn luận:
- Bản thân nghệ thuật là sáng tạo, làm nghệ thuật tức là làm công việc tìm
tòi, sáng tạo không ngừng để tìm ra phong cách. Sáng tác văn học cũng là
một hoạt động nghệ thuật. Bởi vậy, nó đòi hỏi mỗi nhà văn luôn phải có sự
sáng tạo, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”
(Nam Cao).
- Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.
Nói cách khác, tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo cả về hình thức
và nội dung.
- Sáng tạo là thôi thúc bên trong một lý tưởng, lẽ sống, một nhu cầu tự thân
của người nghệ sĩ. Sáng tạo như một nguyên lý bất thành văn, một cam kết
vô tư thầm lặng, tự nguyện của người nghệ sĩ. Bởi vậy, lao động của người
nghệ sĩ đúng là lao động sáng tạo.
- Người đọc tìm đến tác phẩm văn học là để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức
cái đẹp và những sáng tạo của người nghệ sĩ. Đồng thời sáng tạo trong văn
học đánh dấu bước phát triển của lịch sử văn học.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh biết bám vào từ ngữ trong ý kiến (không nhất thiết phải đầy đủ
như đáp án) để giải thích và suy ra đầy đủ ý nghĩa của ý kiến: 1,0 điểm; nếu
chạm được ý nhưng chưa đầy đủ: 0,75 điểm; nếu giải thích từ ngữ nhưng
không rút ra ý nghĩa khái quát hoặc chỉ nói đến ý nghĩa mà không giải thích
từ ngữ: 0,25 đến 0,5 điểm.
- Thí sinh bàn luận mỗi ý được 0,25 điểm.
b.2 Phân tích, chứng minh qua văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
* Giới thiệu khái quát về văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
và nhà thơ Phạm Tiến Duật.
* Những sáng tạo của Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính”
- Sáng tạo trong cách đặt nhan đề bài thơ độc đáo, khác lạ.
Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật rõ hình ảnh của toàn bài: những chiếc
xe không kính. Tác giả thêm vào nhan đề hai chữ “bài thơ” như nói lên cách
nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những
chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ
yếu muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam
dũng cảm, hiên ngang, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ, khắc nghiệt của
chiến tranh.
- Phạm Tiến Duật sáng tạo trong việc lựa chọn hình ảnh những chiếc xe
không kính.
+ Xưa nay, hình ảnh tàu xe vào thơ thường được “mĩ lệ hóa”, “lãng
mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Ở bài thơ này,
Phạm Tiến Duật đưa vào hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả
4
7,0
0,5
6,5
cụ thể, chi tiết, thực đến trần trụi và thường gặp trên tuyến đường Trường
Sơn.
+ Phải có một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế như Phạm Tiến Duật mới
phát hiện ra được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ
ca thời chống Mĩ.
- Bài thơ là sự sáng tạo trong cách nhìn, cách cảm nhận về vẻ đẹp hình tượng
những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.
+ Những người lính lái xe ra chiến trường với tư thế hiên ngang, ung
dung, tự tin.
+ Họ là những chiến sĩ lái xe với tinh thần lạc quan, trẻ trung, sôi nổi,
bất chấp khó khăn, nguy hiểm: các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh
mà không hề run sợ, né tránh với một bản lĩnh vững vàng. Niềm vui, tiếng
cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của
cuộc chiến.
+ Tình đồng chí, đồng đội sâu đậm được thể hiện một cách tự nhiên,
dung dị.
+ Họ là những người lính có lí tưởng sống cao đẹp, lòng yêu nước,
sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
- Bài thơ còn là sự sự sáng tạo trong cách thể hiện, khẳng định tiếng nói,
cảm xúc của cái tôi cá nhân. Đó là một cảm xúc chân thành, hồn nhiên đậm
chất lính và dạt dào tình cảm yêu nước.
- Sáng tạo trong ngôn ngữ, giọng điệu:
+ Ngôn ngữ giản dị, đậm chất văn xuôi, gần với lời nói thường mang
tính khẩu ngữ, tự nhiên, khoẻ khoắn; kết hợp linh hoạt giữa thể 7 chữ với
thể 8 chữ, có chỗ 6 hay 10 chữ; sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ (ẩn dụ,
điệp từ, điệp cấu trúc câu, liệt kê…) tạo cho bài thơ một điệu thơ sinh động,
góp phần tạo nên chất thơ mới trong thơ viết về đề tài người lính của nhà thơ
Phạm Tiến Duật.
+ Giọng điệu vui tươi, sôi nổi, trẻ trung, hóm hỉnh có vẻ tinh nghịch
pha chút ngang tàng, dũng cảm, bất chấp những nguy hiểm, khó khăn của
những người lính lái xe Trường Sơn thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ
cứu nước.
(Phân tích dẫn chứng).
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh phân tích sâu sắc dẫn chứng thuyết phục đủ 5 ý: 6,5 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 1: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 2: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 3: 2,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 4: 1,0 điểm
- Thí sinh phân tích sâu sắc, dẫn chứng thuyết phục ý 5: 1,5 điểm
b.3. Đánh giá về nhận định của Nguyễn Minh Châu
Nhận định đặt ra vai trò cho người nghệ sĩ và người tiếp nhận văn chương.
- Với người nghệ sĩ: Phải dám sáng tạo dẫu đôi khi sáng tạo là sự dấn
thân vào những cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm bởi đó là thiên chức cao quý
của người cầm bút. Sáng tạo trên cơ sở kế thừa và phát huy. Sự sáng tạo góp
phần làm nên gương mặt tinh thần riêng của mỗi nhà văn, diện mạo của nền
văn học, thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật.
5
1,0
- Với người đọc: Thưởng thức và trân trọng những sáng tạo nghệ
thuật của người nghệ sĩ với tất cả tâm hồn của người đồng sáng tạo.
Hướng dẫn chấm:
- Thí sinh bàn luận, mở rộng sâu sắc mỗi ý được 0,5 điểm.
c. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của nhận định
4. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng nguyên tắc về chính
tả, dùng từ, đặt câu.
5. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới
mẻ về vấn đề nghị luận.
0,5
0,25
0,25
20,0
điểm
Tổng điểm:
Lưu ý:
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một
cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Giám khảo cần vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, căn cứ
cụ thể vào bài làm của thí sinh để cho các mức điểm phù hợp; trân trọng sự sáng tạo của thí sinh,
khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có
những ý ngoài đáp án nhưng lí luận sắc bén, xác đáng và có sức thuyết phục.
- Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm những bài văn đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu
ở mỗi câu, đồng thời phải được trình bày chặt chẽ, lưu loát, có cảm xúc.
- Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
- Cần trừ điểm những bài có nhiều lỗi chính tả, hành văn, ngữ pháp.
- Điểm bài thi có thể lẻ đến 0,25 và không làm tròn số.
------------------------HẾT-------------------------
6
 





